- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Phạm Văn C phạm tội “Đánh bạc” Điều 321 - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không ch p nhận kháng cáo xin giảm hình phạt và cho hưởng án treo của bị cáo Phạm Văn C.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 153/2019/HS-PT Ngày: 25 - 6 - 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hằng.
Các Thẩm phán: Ông L H ng Nư c.
Ông Ngô T n Lợi.
- Thư ký phiên tòa: Bà L Thị H ng Linh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đ ng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn N n - Kiểm sát vi n.
Ngày 25 tháng 6 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đ ng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 127/2019/TLPT-HS ngày 24 tháng 5 năm 2019 đối v i các bị cáo Phạm Văn C, Nguyễn Văn T, do có kháng cáo của các bị cáo đối v i Bản án hình sự sơ thẩm số: 10/2019/HS-ST ngày 12 tháng 4 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Đ ng Tháp.
- Các bị cáo c kháng cáo:
1. Nguyễn Văn T, sinh năm 1974 tại Đ ng Tháp; Nơi cư trú: Ấp x, xã B, huyện C, tỉnh Đ ng Tháp; nghề nghiệp: Làm thu ; trình độ học v n: 04/12; dân tộc: Kinh; gi i tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T (đã chết) và bà Nguyễn Thị T (đã chết); có vợ và 02 con; tiền sự, tiền án: Không; bị b t, tạm giam: Không; có m t.
2. Phạm Văn C, sinh năm 1969 tại Đ ng Tháp; Nơi cư trú: Ấp 3, xã B1, huyện C, tỉnh Đ ng Tháp; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học v n: 08/12; dân tộc: Kinh; gi i tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn K và bà Đ ng Thị X; có vợ và 03 con; tiền sự, tiền án: Không; bị b t, tạm giam: Không; có m t.
Ngoài ra còn có bị cáo V Văn B không có kháng cáo và không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong h sơ vụ án và diễn biến tại phi n tòa, nội dung vụ án được tóm t t như sau:
Vào khoảng 14 giờ ngày 14/8/2018, V Văn B rủ Nguyễn Thanh T, Phạm Văn C và Nguyễn Văn T đến phòng trọ số x, nhà trọ V thuộc p x, xã G, huyện C để đánh bài cào 03 cây ăn thua bằng tiền thì t t cả đ ng ý. Trư c khi đánh bài, C chuẩn bị số tiền 5.000.000 đ ng, B số tiền 1.000.000 đ ng, T số tiền 350.000 đ ng.
Tại nhà trọ V, C làm cái chia bài cho B, T, T đ t tụ, (trong đó T được B nhờ đ t dùm cho B 01 tụ, số tiền đ t tụ và th ng thua đều do B chịu trách nhiệm). Mỗi ván bài số tiền của T đ t tụ từ 100.000 đ ng đến 500.000 đ ng; B và T đ t tụ số tiền từ 500.000 đ ng đến 5.000.000 đ ng cho mỗi tụ. Sau khi đánh bài được khoảng 30 phút, B thua C số tiền 23.000.000 đ ng (trong đó tiền m t 1.000.000 đ ng, tiền thiếu 22.000.000 đ ng), do không có tiền n n B tự l y gi y chứng minh nhân dân và gi y đăng ký xe mô tô loại Future FI màu đ , biển số xxxx của mình đưa cho C dùng hiện vật làm tin để đánh bài tiếp thì C đ ng ý. Sau đó B, T, T chơi th m 02 ván bài, B và T mỗi ván bài đ t số tiền 5.000.000 đ ng tiếp tục thua hết n n C không đ ng ý chơi tiếp mà y u cầu B đưa chìa khóa xe cho C, nhưng B nói dối chìa khóa đã bị m t, đóng cửa phòng trọ lại. Do B không đưa chìa khóa nên C k u xe ba gác đến chở xe mô tô biển số xxxx của B đi mở khóa và đem cầm tại tiệm vàng do anh L Quốc T làm chủ thuộc p x, xã B1, huyện C được số tiền 18.000.000 đ ng. Sau khi C b đi, B đến Công an xã G trình báo sự việc, h sơ sau đó được chuyển đến Công an huyện C giải quyết theo thẩm quyền.
Đến ngày 27/8/2018, C đến g p anh T trả lại số tiền 18.000.000 đ ng và chuộc lại xe mô tô. Cùng ngày, C tự nguyện giao nộp gi y chứng minh nhân dân, gi y đăng ký cùng xe mô tô biển số xxxx (xe không có ổ khóa) của B cho Cơ quan điều tra. Đ ng thời, ngày 28/8/2018 chị Hà Thị V chủ nhà trọ V đã giao nộp 01 bộ bài tây 52 lá được chị V c t giữ khi dọn phòng số 7 vào ngày 14/8/2018.
Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả cho B 01 gi y chứng minh nhân dân mang t n V Văn B, anh T không y u cầu gì, các vật chứng còn lại chuyển xử lý theo quy định của pháp luật.
Ngày 19/11/2018 Hội đ ng định giá trong tố tụng hình sự đã định giá xe mô tô loại Future FI màu đ , ghi, xám, số máy: xxxx, số khung: xxxx trị giá 18.000.000 đ ng.
Đối v i Nguyễn Thanh T đã b trốn trư c khi kết thúc điều tra. Căn cứ vào khoản 2 Điều 170, khoản 1 Điều 229 Bộ luật tố tụng hình sự, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra Quyết định tách và tạm đình chỉ vụ án, bị can đối v i T theo quy định, khi nào b t được s xử lý sau.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 10/2019/HS-ST ngày 12/4/2019 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Đ ng Tháp đã quyết định:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Tuy n bố: Bị cáo Phạm Văn C phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn C 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi ch p hành án án.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Tuy n bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi ch p hành án án.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuy n về hình phạt bổ sung, về vật chứng, về án phí, quyền và thời hạn kháng cáo, quyền và nghĩa vụ của người được thi hành án, người phải thi hành án, thời hiệu thi hành án theo quy định của pháp luật.
Ngày 24/4/2019, bị cáo Nguyễn Văn T kháng cáo xin giảm hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo.
Ngày 24/4/2019, bị cáo Phạm Văn C kháng cáo xin giảm hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo C có nộp số tiền 13.500.000 đ ng để nộp hình phạt bổ sung và án phí hình sự sơ thẩm theo biên lai thu tiền số 002215 ngày 19/6/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C.
Tại phi n tòa phúc thẩm, các bị cáo T, C giữ nguy n kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đ ng Tháp phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án: Tòa án c p sơ thẩm tuy n bố các bị cáo Nguyễn Văn T, Phạm Văn C phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. Xét th y mức án 06 tháng tù mà Tòa án c p sơ thẩm đã xử phạt bị cáo T và mức án 09 tháng tù mà Tòa án c p sơ thẩm đã xử phạt bị cáo C là phù hợp.
Bị cáo T kháng cáo xin giảm hình phạt, cho bị cáo hưởng án treo nhưng không cung c p tình tiết m i để làm căn cứ giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, n n y u cầu kháng cáo của bị cáo T không có cơ sở để ch p nhận.
Sau khi kháng cáo ngày 19/6/2019 bị cáo C có nộp số tiền 13.500.000 đ ng để nộp án phí hình sự sơ thẩm, tiền dùng vào việc đánh bạc và hình phạt bổ sung nhưng đây không là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà pháp luật quy định, n n y u cầu kháng cáo của bị cáo C không có cơ sở để ch p nhận.
Từ những căn cứ tr n, đề nghị Hội đ ng xét xử phúc thẩm không ch p nhận kháng cáo xin giảm hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo của các bị cáo Phạm Văn C, Nguyễn Văn T và giữ nguy n bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Tr n cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong h sơ vụ án đã được tranh tụng tại phi n tòa, Hội đ ng xét xử nhận định như sau:
Tại phi n tòa phúc thẩm, các bị cáo Nguyễn Văn T, Phạm Văn C thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của các bị cáo. Lời khai nhận tội của bị cáo T và bị cáo C phù hợp v i lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và các chứng cứ khác có trong h sơ vụ án, đủ cơ sở xác định vào khoảng 14 giờ ngày 14/8/2018 tại phòng số x, nhà trọ V thuộc p x, xã G, huyện C, tỉnh Đ ng Tháp, các bị cáo đã đánh bạc v i hình thức đánh bài cào 03 cây ăn thua bằng tiền, bị cáo C làm cái, bị cáo V Văn B, Nguyễn Văn T đ t tụ v i số tiền m t đem theo đánh bạc là 6.350.000 đ ng, số tiền đ t tụ mỗi ván bài từ 100.000 đ ng đến 5.000.000 đ ng, bị cáo B thua số tiền 42.000.000 đ ng đ t cược bằng miệng và có thế chiếc xe cho bị cáo C; tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc là 48.350.000 đ ng. Nên có đầy đủ cơ sở khẳng định bản án hình sự sơ thẩm số: 10/2019/HS-ST ngày 12/4/2019 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Đ ng Tháp đã xét xử các bị cáo Phạm Văn C, Nguyễn Văn T về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ.
Hành vi phạm tội của bị cáo C và bị cáo T là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự công cộng. Bị cáo C và bị cáo T là người thành ni n, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. L ra các bị cáo phải sống lành mạnh, không tham gia các tệ nạn xã hội, tích cực lao động chân chính để tạo thu nhập hợp pháp nuôi sống bản thân, có điều kiện phát triển kinh tế gia đình, làm gương cho người thân trong gia đình và góp phần làm cho xã hội tiến bộ hơn. Nhưng các bị cáo đã không thực hiện, chỉ vì lười lao động, muốn nhanh chóng có tiền ti u xài mà không phải lao động v t vả n n các bị cáo đã thực hiện hành vi đánh bạc trái phép v i hình thức đánh bài 03 cây ăn thua bằng tiền. Bị cáo C và bị cáo T nhận thức được hành vi đánh bạc trái phép ăn thua bằng tiền hay hiện vật dư i b t k hình thức nào là vi phạm pháp luật, là tệ nạn của xã hội, xâm phạm đến trật tự nếp sống văn minh của xã hội, nhưng vẫn cố ý thực hiện, thể hiện việc các bị cáo xem thường pháp luật. Do đó phải có mức hình phạt tương xứng v i hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra, nhằm giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt và có tác dụng phòng ngừa chung cho xã hội.
Khi lượng hình phạt, Tòa án c p sơ thẩm đã xem xét tình tiết phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghi m trọng; người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo là phù hợp. Xét mức án 09 tháng tù mà Tòa án c p sơ thẩm đã xử phạt bị cáo C và mức án 06 tháng tù mà Tòa án c p sơ thẩm đã xử phạt bị cáo T là đúng v i tính ch t, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo.
Bị cáo C kháng cáo xin giảm hình phạt, cho bị cáo hưởng án treo v i lý do gia đình có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình và phải đi làm thu để lo kinh tế, nhưng bị cáo chỉ trình bày lý do của việc kháng cáo và y u cầu Tòa án c p phúc thẩm xem xét mà không cung c p chứng cứ chứng minh, trong khi đó đơn kháng cáo của bị cáo C chỉ được Công an xã Bình Hàng Trung xác nhận nơi cư trú của bị cáo C và đơn cứu xét thì UBND xã B1 xác nhận chữ ký của Phó Trưởng BND p x; về tình tiết bị cáo phải nuôi người con bị tai nạn giao thông và 01 người cháu bị xu t huyết tiểu cầu không là tình tiết m i giảm nhẹ cho bị cáo; tình tiết bị cáo C có anh trai tham gia kháng chiến chống mỹ cứu nư c được t ng bằng khen, nhưng bị cáo chỉ cung c p bản photo bằng khen của ông Phạm Văn L và không có căn cứ chứng minh ông L là anh trai của bị cáo C; tình tiết bị cáo nộp số tiền 13.500.000 đ ng ngày 19/6/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện C để nộp án phí hình sự sơ thẩm, tiền dùng vào việc đánh bạc và hình phạt bổ sung, tuy nhiên trách nhiệm chịu án phí hình sự sơ thẩm do bị cáo chịu theo quy định của pháp luật, vật chứng của vụ án số tiền 3.200.000 đ ng bị cáo phải nộp theo quy định, đối v i tội danh mà bị cáo C bị xét xử, pháp luật quy định ngoài việc áp dụng hình phạt chính, bị cáo C còn bị áp dụng hình phạt bổ sung, đây là hình phạt mà bị cáo phải ch p hành, không thuộc trường hợp giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được pháp luật quy định. Nên Hội đ ng xét xử phúc thẩm không ch p nhận kháng cáo giảm mức hình phạt tù, không cho bị cáo C hưởng án treo và giữ nguy n bản án sơ thẩm.
Bị cáo T kháng cáo xin giảm hình phạt, cho bị cáo hưởng án treo v i lý do Phòng PC 45 Công an tỉnh Đ ng Tháp đề nghị bị cáo T cộng tác để bài trừ các tệ nạn xã hội nhưng chưa thực hiện và bị cáo T không có chứng cứ chứng minh n n không xem xét; tình tiết gia đình có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình và phải đi làm thu để lo kinh tế, nhưng bị cáo chỉ trình bày lý do của việc kháng cáo và y u cầu Tòa án c p phúc thẩm xem xét, đơn kháng cáo được Công an xã B xác nhận nơi cư trú của bị cáo T n n không có căn cứ ch p nhận. Bị cáo T kháng cáo nhưng không cung c p tình tiết m i để làm căn cứ giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nên Hội đ ng xét xử phúc thẩm không ch p nhận kháng cáo giảm mức hình phạt tù, không cho bị cáo T hưởng án treo và giữ nguy n bản án sơ thẩm.
Hội đ ng xét xử thống nh t v i quan điểm, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đ ng Tháp, không ch p nhận kháng cáo xin giảm hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo của các bị cáo Phạm Văn C, Nguyễn Văn T và giữ nguy n bản án sơ thẩm.
Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Do kháng cáo của các bị cáo không được ch p nhận n n các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các l trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.
Không ch p nhận kháng cáo xin giảm hình phạt và cho hưởng án treo của bị cáo Phạm Văn C.
Không ch p nhận kháng cáo xin giảm hình phạt và cho hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Văn T.
Giữ nguy n bản án sơ thẩm.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuy n bố: Bị cáo Phạm Văn C phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn C 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày ch p hành án.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuy n bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi ch p hành án án.
Về án phí: Bị cáo Phạm Văn C và bị cáo Nguyễn Văn T, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đ ng án phí hình sự phúc thẩm.
Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuy n án.
| Nơi nhận: - TAND tối cao (Vụ GĐ-KT 1); - Ban Nội chính Tỉnh ủy; - Sở Tư pháp Tỉnh; - VKSND Tỉnh; - Cơ quan THAHS Công an Tỉnh; - Trại tạm giam Công an Tỉnh; - TAND - VKSND h. C; - CCTHADS h. C; - Cơ quan CSĐT Công an h. C; - Phòng h sơ nghiệp vụ Công an Tỉnh; - Phòng GĐKTNV-THA; - Bị cáo; - Lưu: VT, HS (Linh). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Thị Thúy Hằng |