vanban.org

Bản án 153/2018/HSST — Hình sự

TAND TP. Hải Dương, tỉnh Hải Dương Tuyên án 21/08/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố: Bị cáo Đào Văn T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” Về hình phạt chính: Xử phạt: bị cáo Đào Văn T Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đào Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI DƢƠNG
TỈNH HẢI DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

---------------
Bản án số: 153/2018/HSST
Ngày 21-8-2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƢƠNG, TỈNH HẢI DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê QKhỏe

Ông Nguyễn Văn Quyết

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Oanh - Thƣ ký Toà án nhân dân thành phố Hải Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Minh Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 8 năm 2018 tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Hải Dƣơng, tỉnh Hải Dƣơng xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 134/2018/HSST ngày 20 tháng 7 năm 2018 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 147/2018/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 8 năm 2018 đối với bị cáo:

Đào Văn T, sinh năm 1991; ĐKHKTT và chỗ ở: thôn Vũ Xá, phƣờng Ái Quốc, thành phố Hải Dƣơng, tỉnh Hải Dƣơng; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; tôn giáo: không; dân tộc: Kinh; Nghề nghiệp: Không;Trình độ học vấn: 12/12; con ông Đào Xuân B, sinh năm 1958 và bà Đoàn Thị H, sinh năm 1968; Vợ, con: chƣa có.

Tiền án: Bản án số 19/2015/HSST ngày 26-02-2015 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dƣơng xử phạt 18 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 06-5-2016, chƣa thi hành án phần trách nhiệm dân sự.

Tiền sự: Ngày 18-01-2017 bị Công an huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dƣơng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, phạt tiền 1.500.000đồng, đã thi hành ngày 19-01-2017.

Nhân thân: Bản án số 242/2009/HSST ngày 16-12-2009 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dƣơng xử phạt 09 tháng tù cho hƣởng án treo về tội Trộm cắp tài sản.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 08-5-2018 đến nay tại Trại tạm giam Kim Chi – Công an tỉnh Hải Dƣơng. Có mặt tại phiên tòa.

Ngƣời bị hại: Anh Nguyễn Huy H, sinh năm 1989; cƣ trú tại: thôn Đông Thôn, xã Q, huyện N, Hải Dƣơng; vắng mặt.

Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Đinh Văn Q, sinh năm 1998; cƣ trú tại khu 6, phƣờng C, TP. Hải Dƣơng, tỉnh Hải Dƣơng; vắng mặt.

Chị Phạm Thị H1, sinh năm 1995; cƣ trú tại: Thôn A, xã S, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dƣơng; vắng mặt.

Ngƣời làm chứng:

Anh Nguyễn Bá V, sinh năm 1990; Cƣ trú tại: thôn A, xã Q, huyện Nam Sách, Hải Dƣơng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Khoảng 14 giờ ngày 29-12-2017, anh Nguyễn Huy H cùng anh Nguyễn Bá V đi xe máy WAVE anpha màu trắng, BKS 34 B3 - 116.50 của anh H đến nhà Đào Văn T, rủ T đi chơi tại thành phố Hải Dƣơng. Đến khoảng 16h30’ cùng ngày, cả ba đi về quán nƣớc ở khu Vũ Xá, phƣờng Ái Quốc, TP. Hải Dƣơng ngồi chơi. Do không có tiền nên T nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe máy của anh Hãnh. T giả vờ hỏi mƣợn xe của H để đi đón bạn nhƣng anh H bảo để anh Hđi cùng. T bảo anh H chở đến khu vực đình Vũ Xá thì bảo anh Hđứng chờ để T lấy xe của H vào đón bạn, anh Htƣởng thật nên giao xe máy cho T. T điều khiển xe máy của anh Hđến quán trò chơi điện tử ở khu Tiền Trung, phƣờng Ái Quốc, TP.Hải Dƣơng và cầm cố chiếc xe máy làm tin cho Đinh Văn Q, sinh năm 1998 ở khu 6, phƣờng C, TP. Hải Dƣơng và vay số tiền 4.000.000đồng. Số tiền này T đã sử dụng để chơi điện tử bắn cá và bị thua hết.

Tại kết luận định giá tài sản số 08 ngày 12-02-2018 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân thành phố Hải Dƣơng kết luận: Trị giá chiếc xe máy WAVE anpha màu trắng, BKS 34 B3 - 116.50 là 12.950.000đồng.

Về vật chứng và trách nhiệm dân sự: Cơ quan Cảnh sát điều tra công an thành phố Hải Dƣơng đã thu và trả lại 01 chiếc xe máy WAVE anpha màu trắng, BKS 34 B3 - 116.50 cho anh H, anh H chị H1 không yêu cầu bị cáo Đào Văn T phải bồi thƣờng gì thêm; anh Đinh Văn Q không yêu cầu bị cáo hoàn trả số tiền 4.000.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 146/VKS-HS ngày 19-7-2018, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dƣơng truy tố Đào Văn T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo Đào Văn T khai nhận hành vi phạm tội và không có ý kiến hay khiếu nại về Kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự của UBND thành phố Hải Dƣơng, xác định VKSND thành phố Hải Dƣơng truy tố bị cáo về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự là đúng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dƣơng giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Đào Văn T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Về hình phạt chính: Áp dụng khoản 1 Điều 174, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; xử phạt: bị cáo Đào Văn T từ 15 tháng đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 08-5-2018;

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS, Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Quốc hội. Bị cáo Đào Văn T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Đào Văn T không có ý kiến tranh luận gì đối với luận tội của Kiểm sát viên và nói lời sau cùng đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về tố tụng: Tòa án đã tống đạt trực tiếp các văn bản tố tụng cho ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Đinh Văn Q nhƣng anh Q không có mặt tại địa phƣơng. Tòa án đã niêm yết theo quy định tại Điều 140 Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, anh Đinh Văn Q vắng mặt; Ngƣời bị hại anh Nguyễn Huy H và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Phạm Thị H1 xin xét xử vắng mặt nên HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt anh Q, anh H, chị H1 theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo Đào Văn T tại phiên toà phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của ngƣời bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tại cơ quan điều tra; vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận: Do có ý định chiếm đoạt tài sản từ trƣớc, khoảng 16 giờ 30' ngày 29-12-2017, tại khu Vũ Xá, phƣờng Ái Quốc, thành phố Hải Dƣơng, Đào Văn T có lời nói gian dối hỏi mƣợn xe máy Wave anpha màu trắng, BKS: 34 B3 - 116.50 trị giá là 12.950.000 đồng của anh Nguyễn Huy H để đi đón bạn nhƣng sau đó đã điều khiển xe máy đến quán điện tử ở khu Tiền Trung, phƣờng Ái Quốc, thành phố Hải Dƣơng cầm cố làm tin cho anh Đinh Văn Q và vay số tiền 4.000.000đồng để chơi trò chơi điện tử.

Bị cáo Đào Văn T là ngƣời có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức đƣợc hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của anh Nguyễn Huy Htrị giá tài sản là 12.950.000 đồng là vi phạm pháp luật nhƣng vì tƣ lợi cá nhân mà bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi đó của Đào Văn T đủ yếu tố cấu thành tội: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự. Xác định quyết định truy tố của VKSND thành phố Hải Dƣơng đối với bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo Đào Văn T là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của ngƣời khác đƣợc pháp luật bảo vệ. Với thủ đoạn gian dối nói mƣợn xe để đi đón bạn, bị cáo T đã khiến anh Htin tƣởng, giao tài sản cho bị cáo mà không có sự nghi ngờ và T đã đạt đƣợc mục đích chiếm đoạt tài sản của anh H. Bản thân bị cáo đã bị xét xử về các hành vi chiếm đoạt tài sản, bị cáo không lấy đó làm bài học tu dƣỡng bản thân mà tiếp tục phạm tội nên cần phải có hình phạt nghiêm tƣơng xứng hành vi phạm tội của bị cáo.

Xem xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy: Bị cáo là ngƣời có nhân thân xấu. Bị cáo đã có tiền án về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản chƣa đƣợc xóa án nay lại phạm tội nên phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, có bố đẻ đƣợc tặng thƣởng Huân chƣơng chiến công hạng 3 nên đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, HĐXX sẽ xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập; không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Đối với chiếc xe máy Wave anpha màu trắng, BKS: 34 B3 - 116.50 đăng ký xe mang tên Phạm Thị H1 là tài sản hợp pháp của anh Hãnh, chị Hà do bị cáo T chiếm đoạt; anh H, chị H1 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì nên HĐXX không xem xét, giải quyết. Đối với khoản tiền 4.000.000đồng bị cáo T vay của anh Đinh Văn Q để chơi điện tử; quá trình điều tra anh Q không yêu cầu bị cáo T phải bồi thƣờng số tiền này cho anh. Tại phiên tòa, anh Q vắng mặt, địa phƣơng xác định không biết đi đâu nên nếu sau này anh Qcó yêu cầu bồi thƣờng số tiền trên thì có quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự khác theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. HĐXX không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Bị cáo Đào Văn T phải chịu án phí sơ thẩm hình sự theo quy định của pháp luật.

Đối với anh Đinh Văn Q không biết chiếc xe máy Wave anpha màu trắng, BKS: 34 B3 - 116.50 do T phạm tội mà có nên không đặt ra xử lý là phù hợp.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Hải Dƣơng, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dƣơng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 174, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 136; Điều 292; Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Quốc hội.

1. Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Đào Văn T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

2. Về trách nhiệm hình sự:

- Về hình phạt chính: Xử phạt: bị cáo Đào Văn T 16 (Mƣời sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 08-5-2018.

- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

3. Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét, giải quyết.

4. Về án phí: Bị cáo Đào Văn T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Đào Văn T đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Ngƣời bị hại (vắng mặt) quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc từ ngày bản án đƣợc niêm yết theo quy định của pháp luật; ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (vắng mặt) có quyền kháng cáo phần liên quan đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc từ ngày bản án đƣợc niêm yết theo quy định của pháp luật./. Nơi nhận:

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- VKSND tỉnh Hải Dƣơng;

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

- VKSND TP Hải Dƣơng;

- Công an TP Hải Dƣơng;

- Trại tạm giam Kim Chi-CA tỉnh HD;

- Chi cục THADS TP Hải Dƣơng;

- Sở tƣ pháp tỉnh Hải Dƣơng;

- Bị cáo;

- Ngƣời bị hại;

Nguyễn Thị Thu

- Ngƣời có quyền lợi, NV liên quan;

- Lƣu hồ sơ vụ án.

TP Nguyễn Thị Thu

Báo cáo vụ Đào Văn T

Xét xử ngày 21-8-2018

------------

B/c Đào Văn T, sinh năm 1991; ĐKHKTT và chỗ ở: khu Vũ Xá, phƣờng Ái Quốc, TP Hải Dƣơng, tỉnh Hải Dƣơng; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; tôn giáo: không; dân tộc: Kinh; Nghề nghiệp: Không;Trình độ học vấn: 12/12; con ông Đào Xuân Bàn, sinh năm 1958 và bà Đoàn Thị Hội, sinh năm 1968; Vợ, con: chƣa có.

Tiền án: Bản án số 19/2015/HSST ngày 26-02-2015 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dƣơng xử phạt 18 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản Chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/5/2016, chƣa thi hành án phần trách nhiệm dân sự.

Tiền sự: Ngày 18-01-2017 bị Công an huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dƣơng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy,phạt tiền 1.500.000đ đã thi hành ngày 19-01-2017.

Nhân thân: Bản án số 242/2009/HSST ngày 16.12.2009 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dƣơng xử phạt 09 tháng tù cho hƣởng án treo về tội Trộm cắp tài sản.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 08-5-2018 đến nay tại Trại tạm giam Kim Chi – Công an tỉnh Hải Dƣơng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về tố tụng: Tòa án đã tống đạt trực tiếp các văn bản tố tụng cho ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Đinh Văn Qnhƣng anh Qkhông vắng mặt tại địa phƣơng. Tòa án đã niêm yết theo quy định tại Điều 140 Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, anh Đinh Văn Qvắng mặt nên HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt anh Qtheo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.

Về hành vi của bị cáo: Lời khai của bị cáo Đào Văn T tại phiên toà phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của ngƣời bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Đinh Văn Quang; tại cơ quan điều tra; vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận: Do có ý định chiếm đoạt tài sản từ trƣớc, khoảng 16 giờ 30' ngày 29-12-2017, tại khu Vũ Xá, phƣờng Ái Quốc, thành phố Hải Dƣơng, Đào Văn T có lời nói gian dối hỏi mƣợn xe máy Wave anpha màu trắng, BKS: 34 B3 - 116.50 trị giá là 12.950.000 đồng của anh Nguyễn Huy Hđể đi đón bạn nhƣng sau đó đã điều khiển xe máy đi cầm cố cho anh Đinh Văn Qvay số tiền 4.000.000đồng để chơi trò chơi điện tử tại quán điện tử ở khu Tiền Trung, phƣờng Ái Quốc, thành phố Hải Dƣơng.

Bị cáo Đào Văn T là ngƣời có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức đƣợc hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của anh Nguyễn Huy Htrị giá tài sản là 12.950.000 đồng là vi phạm pháp luật nhƣng vì tƣ lợi cá nhân mà bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi đó của Đào Văn T đủ yếu tố cấu thành tội: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự. Xác định quyết định truy tố của VKSND thành phố Hải Dƣơng đối với bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo Đào Văn T là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của ngƣời khác đƣợc pháp luật bảo vệ. Với thủ đoạn gian dối nói mƣợn xe để đi đón bạn, bị cáo T đã khiến anh Htin tƣởng, giao tài sản cho bị cáo mà không có sự nghi ngờ và T đã đạt đƣợc mục đích chiếm đoạt tài sản của anh Hãnh. Bản thân bị cáo đã bị xét xử về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, bị cáo không lấy đó làm bài học tu dƣỡng bản thân mà tiếp tục phạm tội nên cần phải có hình phạt nghiêm tƣơng xứng hành vi phạm tội của bị cáo.

Xem xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy: Bị cáo là ngƣời có nhân thân xấu. Bị cáo đã có tiền án về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản nhƣng chƣa đƣợc xóa án nay lại phạm tội nên phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình nên đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, HĐXX sẽ xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định; không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Huy Hđã nhận lại tài sản là 01 chiếc xe máy Wave anpha màu trắng, BKS: 34 B3 - 116.50 đăng ký xe mang tên Phạm Thị Hà là tài sản hợp pháp của anh Hãnh, chị Hà do bị cáo T chiếm đoạt, không có yêu cầu gì nên HĐXX không xem xét, giải quyết. Đối với khoản tiền 4.000.000đồng bị cáo T vay của anh Đinh Văn Quang, quá trình điều tra anh Qkhông yêu cầu bị cáo T phải bồi thƣờng số tiền này cho anh. Tại phiên tòa, anh Qvắng mặt, nếu có yêu cầu bồi thƣờng số tiền trên thì sau này anh Qcó quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự khác theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm hình sự theo quy định của pháp luật.

Đối với anh Đinh Văn Qkhông biết chiếc xe máy Wave anpha màu trắng, BKS: 34 B3 - 116.50 do T phạm tội mà có nên không đặt ra xử lý là phù hợp.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Hải Dƣơng, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dƣơng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 174, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 136; Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Quốc hội.

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố: Bị cáo Đào Văn T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”

Về hình phạt chính: Xử phạt: bị cáo Đào Văn T

tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 08-5-2018;

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

2. Về án phí: Bị cáo Đào Văn T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Đào Văn T đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./. TOÀ ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HẢI DƢƠNG

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc TỈNH HẢI DƢƠNG

-----------------------------

---------------

Tp Hải Dương, ngày 15 tháng 12 năm 2017.

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƢƠNG

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA TOÀ ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HẢI DƢƠNG

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc TỈNH HẢI DƢƠNG

-----------------------------

---------------

Tp Hải Dương, ngày 21 tháng 4 năm 2017.

THÔNG BÁO KẾT QUẢ XÉT XỬ

Kính gửi: - UBND xã Cẩm Văn, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dƣơng.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 60/2017/HSST ngày 20/4/2017 đối với bị cáo:

Vậy Tòa án nhân dân thành phố Hải Dƣơng thông báo để UBND xã Cẩm Văn, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dƣơng đƣợc biết và theo dõi./.

Cỡ chữ