- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn P - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lò Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 153/2018/HSST Ngày: 17/9/2018. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Hạnh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Quốc Thái
Bà Nguyễn Thị Tiến
-Thư ký phiên tòa : Bà Đinh Thị Hường – Thư ký Tòa án
-Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hà Đông tham gia phiên tòa: ông Đào Xuân Thắng - Kiểm sát viên.
Ngày 17/9/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hà Đông xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 147/2018/HSST ngµy 07 th¸ng 8 n¨m 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 167/2018/QĐXXST-HS ngày 04/9/2018 đối với bị cáo :
Lò Văn P, sinh ngày 25/01/2000.
ĐKHKTT: Bản NC, xã NN, huyện C, tỉnh B; chỗ ở hiện nay: Không nơi ở cố định.; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 07/12; con ông Lò Văn N và bà Lò Thị C; vợ, con chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/5/2018 cho đến nay; hiện đang bị tạm giam tại Trại giam số 2 – Công an thành phố Hà Nội. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lò Văn P là đối tượng sử dụng ma túy, đến Hà Nội làm thuê (thợ xây) từ tháng 3/2018. Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 12/5/2018, Lò Văn P đi bộ từ nơi P làm tại đường Thanh Bình, phường Mộ Lao, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội ra đến khu vực Cầu Trắng, Hà Đông bắt xe ôm đi xuống khu vực bệnh viện 09, địa phận xã Tân Triều, huyện Thanh Trì mục đích để tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đến nơi, P đi bộ và gặp một thanh niên không quen biết trông giống người nghiện. P đến gần thì người này hỏi: “Mua bao nhiêu” (P hiểu ý người này hỏi mua bao nhiêu ma túy), P nói: “ Bán cho em một trăm”, đồng thời lấy trong người ra 100.000 đồng đưa cho người thanh niên và được người này đưa lại cho 01 gói giấy bạc, bên trong chứa chất bột màu trắng (ma túy heroin). Mua xong, P cầm ở tay rồi tiếp tục đi xe ôm về khu vực đường Thanh Bình, phường Mộ Lao, quận Hà Đông để tìm nơi sử dụng. Khoảng 12 giờ 20 phút cùng ngày, khi đi đến đầu đường Thanh Bình, Phong xuống xe đi bộ, đi đến đoạn trước cửa khách sạn Anh Quân địa chỉ: Số 1 đường Thanh Bình, tổ 8, phường Mộ Lao, quận Hà Đông thì bị tổ công tác Công an phường Mộ Lao, quận Hà Đông kiểm tra bắt quả tang. Vật chứng thu giữ tại lòng bàn tay trái của Lò Văn P 01 gói giấy bạc có đặc điểm trên (Phong khai là ma túy mua bằng tiền do mình làm mà có để về sử dụng). Công an phường Mộ Lao đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lò Văn P, niêm phong vật chứng. Sau đó được đưa về trụ sở Cơ quan CSĐT Công an quận Hà Đông để điều tra xử lý.
Ngày 12/5/2018, Cơ quan điều tra ra quyết định trưng cầu giám định gói niêm phong thu giữ của Lò Văn P nêu trên. Tại bản kết luận giám định số 4746/KLGĐ-PC54 ngày 18/5/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội, kết luận:
“Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy bạc là ma tú y loại Heroine, khối lượng 0,183 gam”.
Tại bản cáo trạng số 153/2018/HSST ngày 06/8/2018, Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông truy tố bị cáo Lò Văn P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự 2015.
Tại phiên tòa:
Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông giữ quyền công tố tại phiên tòa trong phần tranh luận vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố; bị cáo có nhân thân tốt chưa tiền án, tiền sự, thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải để xem xét giảm một phần hình phạt cho bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; xử phạt bị cáo Lò Văn Phong từ 12 đến 15 tháng tù, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo vì bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định.
Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy ma túy đã thu giữ của bị cáo được niêm phong trong phong bì dán kín.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hà Đông, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
2. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Là đối tượng nghiện ma túy, nên khoảng 11 giờ 30 phút ngày 12/5/2018, Lò Văn P đã đi xe ôm từ khu vực Cầu Trắng, Hà Đông đến khu vực bệnh viện 09, địa phận xã Tân Triều, huyện Thanh Trì để mua 01 gói ma túy với giá 100.000 đồng của một người thanh niên không quen biết. Sau khi mua được ma túy, P đi xe ôm về đường Thanh Bình, phường Mộ Lao tìm nơi để sử dụng, khi đi đến trước cửa khách sạn Anh Quân thì bị Công an phường Mộ Lao, quận Hà Đông phát hiện bắt quả tang, thu giữ trong lòng bàn tay trái của P 01 gói ma túy.
Hành vi tàng trữ trái phép 0,183gam ma túy loại heroin nhằm mục đích sử dụng của bị cáo đã thỏa mãn dấu hiệu của tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự 2015. Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông đã truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo nhận thức được ma túy là mối hiểm họa của toàn xã hội, là nguyên nhân làm lây lan các bệnh HIV – AIDS và còn làm phát sinh các loại tội phạm khác nhưng do mong muốn thỏa mãn cơn nghiện nên đã phạm tội. Do vậy, cần thiết phải đưa bị cáo ra xét xử và áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử thấy rằng:
Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình. Bị cáo là người dân tộc Thái nhận thức pháp luật có phần hạn chế nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là đối tượng nghiện không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy đã thu giữ của bị cáo là vật chứng của vụ án.
Về nguồn gốc ma túy bị thu giữ và đối tượng bán ma túy cho Lò Văn P: P khai mua của người đàn ông không quen biết tại khu vực Bệnh viện 09, địa phận xã Tân Triều, huyện Thanh Trì, ngoài lời khai của P không có tài liệu nào chứng minh nên không có cơ sở điều tra xử lý.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Lò Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Lò Văn P 15 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/5/2018.
- Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì nguyên vẹn niêm phong, mép dán có chữ ký của đối tượng Lò Văn P, giám định viên Vũ Việt Cường và cán bộ Trần Hải Hà.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/8/2018 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra công an quận Hà Đông và Chi cục Thi hành án dân sự quận Hà Đông).
- Áp dụng Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án và lệ phí Tòa án.
Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. N¬i nhËn:
| - Công an quận Hà Đông; - Viện kiểm sát quận Hà Đông; - Những người tham gia tố tụng; - UBND xã (phường) thay thông báo kết quả xét xử; - Lưu VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trƣơng Thị Hạnh |