vanban.org

Bản án 153/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hua Kim C-Nguyen Van T"
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 232 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!THỚI!BÌNH! CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
TỈNH!CÀ!MAU
Bản án số: 153/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 29-11-2018

V/v Ly hôn

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!THỚI!BÌNH,!TỈNH!CÀ!MAU!

!

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khoa

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đặng Hoàng Thành

2. Ông Nguyễn Văn Sum

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Kiều Trang là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện!Thới!Bình,!tỉnh!Cà!Mau tham gia phiên toà: Vắng mặt.

Ngày 29 tháng 11 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 337/2018/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2018 về việc Ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 210/2018/QĐXX-ST ngày 22 tháng 10 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Hứa Kim C, sinh năm 1986 (có mặt) Địa chỉ: Ấp A, xã TL, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1976 (vắng mặt) Địa chỉ: Ấp A, xã TL, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.

1

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!!

*Tại đơn khởi kiện ngày 18/5/2018 cũng như tại phiên tòa, chị Hứa Kim C trình bày:

Về hôn nhân: Chị Hứa Kim C và anh Nguyễn Văn T tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TL, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau vào ngày 15/12/2006. Thời gian chung sống do không hợp nhau, vợ chồng thường hay cự cãi, mâu thuẫn kéo dài nên chị C và anh T đã ly thân từ tháng 5/2016 đến nay. Nay, chị C yêu cầu ly hôn với anh T.

Về con chung tên Nguyễn Quốc V, sinh ngày 02/02/2008 và Nguyễn Thúy K, sinh ngày 02/02/2008. Hiện nay con chung chị C nuôi dạy. Khi ly hôn con chung theo ai người đó nuôi dạy; nếu con chung theo chị C thì chị C nuôi dạy nhưng chị C không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung: Chị C và anh T tự thỏa thuận; nợ chung: Không có nên không đặt ra yêu cầu giải quyết.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng và quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Hứa Kim C khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn là anh Nguyễn Văn T. Đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn; Anh T có hộ khẩu tại ấp A, xã TL, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của chị C thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án có thông báo thụ lý và thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và có tống đạt hợp lệ cho anh T nhưng anh T không có văn bản ý kiến đối với yêu cầu của chị C và vắng mặt không có lý do. Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử và có tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng này cho anh T nhưng anh T vắng mặt tại các lần xét xử không có lý do. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh T theo quy định tại khoản 3 Điều

2

228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên được Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình phân công có nhiệm vụ tham gia phiên tòa nhưng do điều kiện khách quan nên Kiểm sát viên vắng mặt. Căn cứ theo khoản 1 Điều 232 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

Về nội dung vụ án:

[3] Về hôn nhân: Chị C và anh T tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Lộc, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau vào ngày 15/12/2006. Tại đơn khởi kiện cũng như tại phiên tòa chị C cho rằng thời gian chung sống giữa anh chị xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, hôn nhân không hạnh phúc nên chị C yêu cầu ly hôn với anh T. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa anh chị đã tuân thủ về điều kiện đăng ký kết hôn tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Điều 8, 9 của luật hôn nhân và gia đình nên được pháp luật thừa nhận là vợ chồng. Thời gian chung sống do bất đồng quan điểm, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân giữa chị C và anh T không đạt được nên anh chị đã ly thân từ tháng 5/2016 đến nay mà không có thiện chí đoàn tụ. Xét thấy, trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án có tiến hành hòa giải để chị C và anh T có điều kiện gặp nhau thỏa thuận đoàn tụ gia đình nhưng không có kết quả do anh T vắng mặt tại các lần hòa giải, xét xử không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử lý cho chị Hứa Kim C và anh Nguyễn Văn T được ly hôn là phù hợp.

[4] Về con chung: Thời gian chung sống chị Hứa Kim C và anh Nguyễn Văn T có 02 (hai) con chung tên Nguyễn Quốc V, sinh ngày 02/02/2008 và Nguyễn Thúy K, sinh ngày 02/02/2008. Xét thấy, tại bản tự khai ngày 18/5/2018 của cháu K và cháu V có yêu cầu và nguyện vọng được sống cùng với mẹ là chị Hứa Kim C. Tại đơn khởi kiện cũng như tại phiên tòa, chị C thống nhất theo sự lựa chọn của các con. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án có tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý về yêu cầu của chị C nhưng anh T không có ý kiến bằng văn bản và vắng mặt tại các lần hòa giải xét xử không có lý do. Hơn nữa, việc các con có nguyện vọng được sống cùng với chị C là phù hợp bởi vì đây là yêu cầu và là sự tự nguyện của các cháu được pháp luật bảo vệ vì các cháu đã trên 07 tuổi; con chung hiện chị C nuôi dạy việc hoán đổi nuôi con sẽ làm ảnh hưởng đến tình cảm của các cháu. Vì vậy, cần tiếp tục giao cháu Nguyễn Thúy K và

3

Nguyễn Quốc V cho chị Hứa Kim C nuôi dạy là phù hợp theo quy định tại Điều 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình.

Chị C không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét là phù hợp.

[5] Về tài sản chung: Chị C xác định tài sản chung chị và anh T đã tự thỏa thuận xong nên không yêu cầu giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét là phù hợp theo quy định tại Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình.

[6] Về nợ chung: Chị C xác định không có nợ chung, vợ chồng không có nợ người ngoài và người ngoài cũng không nợ vợ chồng nên không yêu cầu giải quyết. Tại đơn xác nhận ngày 18/5/2018 của Ủy ban nhân dân xã TL, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau xác nhận không có ai yêu cầu về nợ đối với vợ chồng anh T và chị C tại địa phương. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Hứa Kim C phải chịu án phí – Theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT!ĐỊNH:!

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 56, 59, 81, 82, 83 của luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1.Về hôn nhân: Chị Hứa Kim C và anh Nguyễn Văn T được ly hôn.

2.Về con chung: Giao cháu Nguyễn Quốc V, sinh ngày 02/02/2008 (giới tính nam) và Nguyễn Thúy K, sinh ngày 02/02/2008 (giới tính nữ) cho chị Hứa Kim C tiếp tục nuôi dạy. Anh Nguyễn Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh T không trực

4

tiếp nuôi dạy con chung nhưng anh có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền cản trở.

3.Về tài sản chung và nợ chung: Tài sản chung chị Hứa Kim C và anh Nguyễn Văn T tự thỏa thuận; nợ chung không có.

4.Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Hứa Kim C phải nộp 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng). Vào ngày 21 tháng 5 năm 2018 chị C có dự nộp 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0005489 tại C cục Thi hành án Dân sự huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau nay được chuyển thu án phí.

5.Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Báo cho đương sự biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng anh T vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định.

Cỡ chữ