- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân và gia đình"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Mỹ D.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9-AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:152/2026/HNGĐ-ST Ngày 31 tháng 7 năm 2026 Về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9-AN GIANG, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đào Nữ Ngọc Lan.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Tấn Hậu;
2. Bà Ngô Thùy Dung.
Thư ký phiên tòa: Bà Lý Ngọc Dung - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9-An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9-An Giang tham gia phiên tòa: Ông Lê Trần Thanh Lâm - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2026, tại Tòa án nhân dân khu vực 9- An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 265/2026/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 4 năm 2026 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 120/2026/QĐST- HNGĐ ngày 22 tháng 6 năm 2026; Quyết định hoãn phiên tòa số 133/2026/QĐST- HNGĐ ngày 13 tháng 7 năm 2026 giữa:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Mỹ D, sinh năm 1961; địa chỉ: Số D, đường Đ, khóm Đ, phường L, tỉnh An Giang. Xin vắng mặt. 2. Bị đơn: Ông Võ Thanh P, sinh năm 1958; địa chỉ: Số D, đường Đ, khóm Đ, phường L, tỉnh An Giang. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mỹ D trình bày:
Bà Nguyễn Thị Mỹ D và ông Võ Thanh P tự nguyện quen biết và tìm hiểu và tiến đến hôn nhân vào năm 1983, có đăng ký kết hôn vào năm 1983 tại Ủy ban nhân dân phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (nay là phường L, tỉnh An Giang). Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống tại Số D, đường Đ, khóm Đ, phường L, tỉnh An Giang thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc nhưng sau đó phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, mâu thuẩn kinh tế, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Ly thân từ năm 2021.
Do cuộc sống hôn nhân giữa bà D và ông P không thể hàn gắn bà D khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Về quan hệ hôn nhân: Yêu cầu ly hôn với ông Võ Thanh P do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn. Vợ chồng có đăng ký kết hôn.
- Về con chung: Có 01 con chung tên Võ Thị Thanh N, sinh năm 26/8/1986, hiện đã trưởng thành, sống tự lập được không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết
Bị đơn ông Võ Thanh P vắng mặt trong thời gian giải quyết vụ án án, không nộp văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án: Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9-An Giang phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và ý kiến về việc giải quyết vụ án:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan về việc xét xử vụ án.
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng Dân sự; bị đơn không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Mỹ D.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Mỹ D được ly hôn với ông Võ Thanh P.
Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định tại Điều 147 Bộ Luật tố tụng dân sự và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng đét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: [1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà D khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông P. Quan hệ pháp luật tranh chấp hôn nhân gia đình quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng Dân sự. Ông P có đăng ký hộ khẩu thường trú tại phường L, tỉnh An Giang căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 9-An Giang theo thủ tục tố tụng dân sự. [1.2] Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn được Tòa án cấp tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng nhưng vắng lần thứ hai tại phiên tòa, không lý do. Do đó, căn cứ Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Tại biên bản xác minh tình trạng cư trú ngày 21/5/2026, Công an phường L, tỉnh An Giang đã xác nhận: Đương sự bị đơn ông Võ Thanh P, sinh năm 1958 có đăng ký thường trú tại địa chỉ: Số D, đường Đ, khóm Đ, phường L, tỉnh An Giang, Tòa án đã tiến hành tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn nhưng không thực hiện nghĩa vụ của bị đơn theo quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân:
Bà D và ông P xác lập quan hệ vợ chồng và chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn theo theo giấy chứng nhận kết hôn số 743-KH-1983 ngày 08/11/1983 tại Ủy ban nhân dân M, thành phố L, tỉnh An Giang (nay là phường L, tỉnh An Giang) theo quy định của pháp luật, nên hôn nhân của bà D và ông P được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Do quá trình chung sống, vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống, mục đích hôn nhân không đạt được, nên bà Nguyễn Thị Mỹ D vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với ông Võ Thanh P.
Hội đồng xét xử nhận thấy, hôn nhân phải trên cơ sở tự nguyện, bà D xác định không thể tiếp tục chung sống vợ chồng với ông P. Vợ chồng phải có nghĩa vụ yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Tuy nhiên, trong cuộc hôn nhân giữa bà D và ông P; ông, bà lại không thực hiện các nghĩa vụ này. Quá trình giải quyết vụ án, ông P không có văn bản trình bày ý kiến gửi Tòa án, không tham dự các buổi hòa giải, không tham dự phiên tòa, không đưa ra được giải pháp hàn gắn hôn nhân giữa ông, bà. Do đó, Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét yêu cầu của ông P. Quan hệ hôn nhân giữa bà D và ông P không còn hạnh phúc, không thể hàn gắn được, tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, căn cứ vào Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Mỹ D.
Về con chung: Có 01 con chung tên Võ Thị Thanh N, sinh năm 26/8/1986, hiện đã trưởng thành, sống tự lập được không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nên Hội động xét xử không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà D phải nộp án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Ông P không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 186; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273; Điều 278 và Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 51, Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Mỹ D.
[1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Mỹ D được ly hôn với Võ Thanh P.
[2] Về con chung: Không xem xét giải quyết.
[3] Về tài sản chung: Không xem xét, giải quyết.
[4] Về nợ chung: Không xem xét, giải quyết.
[5] Về án phí sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Mỹ D phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân sơ thẩm, được trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001324, ngày 07/5/2026 tại Thi hành án dân sự tỉnh An Giang. Bà D đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân sơ thẩm.
Ông Võ Thanh P không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
[6] Về quyền kháng cáo:
Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKSND khu vực 9-An Giang; - Phòng THSDS khu vực 9-An Giang; - UBND phường Long Xuyên, tỉnh An Giang; - Các đương sự; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Nữ Ngọc Lan |