vanban.org

Bản án 152/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

39; Khoản 4 Điều 147; Khoản 1, Khoản 2 Điều 269; Điều 271 và Khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Về quan hệ hôn nhân: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? 39; Khoản 4 Điều 147; Khoản 1, Khoản 2 Điều 269; Điều 271 và Khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • Căn cứ chính? Điều 269 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 152/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 21/01/2025
V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Cao Thị Hiền Lũy

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Dương Hoàng Chinh

2. Bà Đỗ Thị Thu Hiền

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ

Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Trang – Kiểm sát viên.

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Hoa, Thư ký Tòa án nhân dân thành

phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 21 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức,

Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 1428/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 6 năm 2024, về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 9712/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 12 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 10363/2024/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Lê Thị Hồng P, sinh năm 2002

Địa chỉ: ấp H, xã Q, huyện V, tỉnh Vĩnh Long (có mặt).

Bị đơn: Ông Nguyễn Hoàng D, sinh năm 1996

Địa chỉ: số nhà A đường N, Khu phố A, phường B, thành phố T, Thành phố

Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ngày 27 tháng 5 năm 2024 và lời trình bày của bà Lê Thị

Hồng P:

Bà và ông Nguyễn Hoàng D tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân

dân phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 01/8/2023. Do kết hôn thông qua giới thiệu của hai bên gia đình nên bà và ông D không có nhiều thời gian tìm hiểu nhau, vì vậy sau khi kết hôn bà sống chung với gia đình chồng trong thời gian một tuần thì bà nhận thấy không có sự hòa hợp về cách sống, sinh hoạt, suy nghĩ với ông D và cha mẹ chồng nên bà đã chủ động trở về nhà cha mẹ ruột sống. Bà và ông D chưa chung sống vợ chồng nên chưa phát sinh tình cảm vợ chồng, không có sự gắn bó trách nhiệm với nhau. Thời gian qua bà và ông D không còn giữ liên lạc, cả hai không có thiện chí hàn gắn đoàn tụ nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

Con chung: Không có.

Tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nợ chung: Không có.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án cho ông

Nguyễn Hoàng D, đồng thời triệu tập ông D đến trụ sở Tòa án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông D vắng mặt.

Tại phiên tòa, bà Lê Thị Hồng P giữ nguyên yêu cầu ly hôn ông Nguyễn

Hoàng D. Ông D đã được Tòa án tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên toà nhưng vắng mặt. Vì vậy Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí

Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử

nghị án, Tòa án đã thực hiện các trình tự, thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn,

bà Lê Thị Hồng P được ly hôn ông Nguyễn Hoàng D. Con chung, không có và tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm

tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu quan điểm, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Quan hệ tranh chấp giữa các đương sự là “Ly hôn” theo quy định tại

Khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án.

Thẩm quyền giải quyết: Do bị đơn cư trú tại thành phố T nên vụ án

thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về thủ tục xét xử vắng mặt bị đơn: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án

đã xác minh về tình trạng cư trú và tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng đối với bị đơn nhưng bị đơn vắng mặt. Xét thấy bị đơn đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa ngày 25/12/2024 nhưng vắng mặt nên Hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa. Sau khi hoãn phiên tòa, Tòa án tiếp tục triệu tập hợp lệ bị đơn lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng bị đơn vẫn vắng mặt. Vì vậy Hội đồng tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung: Xét, bà Lê Thị Hồng P và ông Nguyễn Hoàng D có thực

hiện thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chúng nhận kết hôn số 106/2023 ngày 01/8/2023 nên quan hệ hôn nhân giữa bà P và ông D là hợp pháp. Theo bà P thì mặc dù bà và ông D chưa có thời gian sống chung để chăm sóc, chia sẻ lẫn nhau nhưng bà cảm thấy hai bên không có sự hòa hợp do khác biệt về cách sống, quan điểm nên bà đã quyết định không sống chung vợ chồng mà yêu cầu giải quyết ly hôn.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập ông D tham gia phiên họp

kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông D vắng mặt và Tòa án cũng không nhận được văn bản trình bày ý kiến của ông D đối với yêu cầu khởi kiện của bà P.

Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa bà P và ông D không còn khả năng hàn

gắn tình cảm, xây dựng hạnh phúc gia đình, trên thực tế chưa chung sống vợ chồng. Đến nay bà P yêu cầu ly hôn nhưng ông D vắng mặt, không có ý kiến thể hiện thiện chí mong muốn đoàn tụ. Do mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của bà P là có cơ sở chấp nhận.

Con chung: Không có.

Tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.

Nợ chung: Bà P xác định không có nợ chung.

Án phí dân sự sơ thẩm: Bà P phải chịu án phí ly hôn theo quy định.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy ý kiến đề nghị của đại

diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh là phù hợp, có căn cứ nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Khoản 1 Điều 28; điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều

39; Khoản 4 Điều 147; Khoản 1, Khoản 2 Điều 269; Điều 271 và Khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Khoản 1 Điều 56; Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban

Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Về quan hệ hôn nhân:

Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lê Thị Hồng P;

Bà Lê Thị Hồng P được ly hôn ông Nguyễn Hoàng D.

2. Con chung: Không có.

3. Tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Án phí: Bà Lê Thị Hồng P phải chịu án phí ly hôn 300.000 (ba trăm

ngàn) đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0027401 ngày 10/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh (đã nộp đủ).

5. Quyền và thời hạn kháng cáo, kháng nghị:

Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ

ngày tuyên án.

Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ

ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức có quyền kháng nghị trong thời

hạn 15 ngày; Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày tuyên án.

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành

án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hánh án theo quy định tại các điều 7; 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (đã sửa đổi, bổ sung năm 2014)”.

Cỡ chữ