vanban.org

Bản án 152/2024/HSST — Hình sự

TAND huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La Tuyên án 23/07/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt

Căn c khoản 1 Điều 251; Điều 58; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ lu t Hình sự: Tuyên bố các bị cáo Quàng Văn , Quàng Văn T phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Quàng văn L+ĐP - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TC
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 152/2024/HSST
Ngày 23-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TC, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Mai iêng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Văn Quốc và ông ường Văn Duôi.

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Mai- Thư ký T a án nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn a.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện TC tham gia phiên toà: Bà Bạc Thị Thoản- Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân huyện TC, tỉnh Sơn a xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 155/2024/TLST-HS, ngày 03 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 157/2024/QĐ ST-HS ngày 11 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Quàng Văn L, tên gọi khác: Không; sinh năm 2003, tại huyện TC, tỉnh Sơn a; nơi cư trú: bản Nà Làng, xã MB, huyện TC, tỉnh Sơn a; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa (học vấn): 08/12; dân tộc: Thái; giới t nh: am; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt am; con ông Quàng Văn Mai (đã chết) và bà Thị Hồng, sinh năm 1980; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; bị bắt, tạm gi , tạm giam ngày 09 tháng 4 năm 2024. Có mặt.

2. Quàng Văn T, tên gọi khác: Không; sinh ngày 27 tháng 3 năm 2005, tại huyện TC, tỉnh Sơn a; nơi cư trú: bản à Làng, xã MB, huyện TC, tỉnh Sơn a; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa (học vấn): 01/12; dân tộc: Thái; giới t nh: am; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt am; con ông Quàng Văn Mai (đã chết) và bà Thị Hồng, sinh năm 1980; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; bị bắt, tạm gi , tạm giam từ ngày 09 tháng 4 năm 2024. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên t a, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 19 giờ 20 phút ngày 09/4/2024, Tổ công tác Công an xã MB, huyện TC, tỉnh Sơn a làm nhiệm vụ tại khu vực bản à Làng, xã MB, huyện TC, phát hiện bắt quả tang Quàng Văn , Quàng Văn T có hành vi cất gi trái phép chất ma túy.

V t ch ng thu gi : 01 (một) gói nilon màu vàng bên trong có ch a chất bột cục màu trắng nghi là Heroine (theo Quàng Văn , Quàng Văn T khai là Heroine).

Hồi 08 giờ 30 phút, ngày 10/4/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thu n Châu đã tiến hành bóc mở niêm phong, cân tịnh v t ch ng và lấy m u giám định, kết quả: Số chất bột cục màu trắng nghi là Heroine trong gói nilon màu vàng có khối lượng 4,86 gam. Trích 0,20 gam chất bột cục màu trắng trong tổng số 4,86 gam chất bột cục màu trắng, ký hiệu L1 gửi giám định. Còn lại 4,66 gam, ký hiệu 2.

Kết lu n giám định số: 885/KL- KTHS ngày 12/4/2024 của Ph ng Kỹ thu t hình sự Công an tỉnh Sơn a kết lu n: M u gửi giám định ký hiệu L1 là ma túy, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine; khối lượng của m u gửi giám định là 0,20 gam. Tổng khối lượng ma túy thu gi 4,86 gam, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine. Hoàn lại đối Tợng giám định: M u gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.

Quá trình điều tra và tại phiên t a, các bị cáo Quàng Văn , Quàng Văn T đã khai nh n toàn bộ hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 15 giờ 00 phút, ngày 09/4/2024, Quàng Văn , Quàng Văn T (là hai anh em ruột) đang ở nhà tại bản Nà Làng, xã MB, huyện TC, tỉnh Sơn a thì L rủ T góp tiền cùng nhau để mua ma túy với mục đ ch để sử dụng và bán kiếm lời. T đồng ý và đưa cho L số tiền 500.000 đồng để góp cùng L mua ma túy, L cũng lấy ra số tiền 500.000 đồng, tổng cộng được 1.000.000 đồng. Sau đó L đi bộ một mình lên bản ặm Ún, xã MB, huyện TC để đi tìm mua ma túy, c n T ở nhà đợi. Khi L đi đến khu vực bản ặm Ún, xã MB, huyện TC, L gặp và hỏi mua được của người đàn ông dân tộc mông (L không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể ở đâu) một gói ma túy gói b ng nilon màu vàng bên trong có Heroine với giá 1.000.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, L cầm gói ma túy vừa mua được ở tay phải và đi bộ về nhà. L về đến nhà đưa cho T xem gói ma túy vừa mua được, L rủ T san ra một ít Heroine để cùng nhau sử dụng, T đồng ý. Khi L và T chuẩn bị sử dụng ma túy thì bị tổ công tác Công an xã MB, huyện Thu n Châu phát hiện, bắt quả tang và thu gi c ng v t ch ng đối với Quàng Văn , Quàng Văn T.

Tại Cáo trạng số: 109/CT- VKSTC, ngày 01 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện TC truy tố các bị cáo Quàng Văn , Quàng Văn T về tội mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 251 Bộ lu t Hình sự.

Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà, các bị cáo Quàng Văn , Quàng Văn T đã khai nh n toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân huyện TC đã truy tố và thừa nh n bản cáo trạng truy tố các bị cáo Quàng Văn , Quàng Văn T về tội mua bán trái phép chất ma túy là đúng người, đúng tội.

Trong phần tranh lu n, đại diện Viện kiểm sát nhân huyện TC gi quyền công tố tại phiên toà trình bày lời lu n tội, sau khi phân t ch đánh giá t nh chất, m c độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 251; Điều 58; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ lu t Hình sự:

Tuyên bố các bị cáo Quàng Văn , Quàng Văn T phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy.

ử phạt bị cáo Quàng Văn từ 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng t đến 06 (sáu) năm tù.

ử phạt bị cáo Quàng Văn T từ 05 (năm) năm tù đến 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung ( phạt tiền) đối với các bị cáo.

Về v t ch ng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ u t Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ lu t Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 4,66 gam chất bột cục màu trắng là Heroine, ký hiệu L2; 01 mảnh nilon màu vàng; 01 vỏ phong bì niêm phong v t ch ng ban đầu.

Miễn án ph hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Quàng Văn , Quàng Văn T.

Tại phiên t a, các bị cáo Quàng Văn , Quàng Văn T thừa nh n hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh lu n gì với vị đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn c vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên t a, Hội đồng xét xử nh n định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện TC, tỉnh Sơn a, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện TC, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ lu t Tố tụng hình sự, thực hiện đúng thủ tục tố tụng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Tại phiên toà các bị cáo Quàng Văn , Quàng Văn T thừa nh n: Ngày 09/4/2024, L rủ T góp tiền để mua ma túy với mục đ ch để c ng nhau sử dụng và bán kiếm lời, Quàng Văn góp số tiền 500.000 đồng, Quàng Văn T góp số tiền 500.000 đồng, tổng cộng 1.000.000 đồng. Quàng Văn là người trực tiếp đi mua ma tuý. Sau khi mua được ma túy, L cầm gói ma túy về nhà đưa cho T xem, L rủ T san ra một ít Heroine để cùng nhau sử dụng, T đồng ý. Khi L và T chuẩn bị sử dụng ma túy thì bị tổ công tác Công an xã MB, huyện Thu n Châu phát hiện, bắt quả tang khi L đang cất gi trái phép 4,86 gam chất ma túy (Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine) ở trong người.

Tại phiên t a các bị cáo gi nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, không bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án, các bị cáo hoàn toàn nhất tr với hành vi phạm tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

ời khai nh n tội của các bị cáo ph hợp với nhau, ph hợp kết quả điều tra, ph hợp với: Biên bản bắt người phạm tội quả tang l p ngày 09/4/2024; Biên bản niêm phong v t ch ng; Biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy m u gửi giám định và niêm phong lại; Biên bản mở niêm phong và giao nh n đối Tợng giám định; Kết lu n giám định số 885/KL- KTHS ngày 12/4/2024; lời khai của người ch ng kiến.

Từ các căn c nêu trên đã có đủ cơ sở kết lu n hành vi rủ nhau góp tiền để mua ma túy với mục đ ch để c ng nhau sử dụng và bán kiếm lời của các bị cáo Quàng Văn , Quàng Văn T, khi bị cáo Quàng Văn đang cất gi trái phép 4,86 gam chất ma túy (Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine) trong người thì bị phát hiện bắt quả tang, hành vi của các bị cáo Quàng Văn , Quàng Văn T đã phạm vào tội mua bán trái phép chất ma túy quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ lu t hình sự.

Bị cáo Quàng Văn là người rủ rê, khởi xướng, trực tiếp đi mua ma túy, góp số tiền 500.000 đồng; bị cáo Quàng Văn T c ng thống nhất ý ch , góp số tiền 500.000 đồng để mua ma túy. Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo Quàng Văn , Quàng Văn T phạm tội với vai tr đồng phạm, do đó cần áp dụng Điều 58 Bộ lu t hình sự để xem xét vai tr của các bi cáo.

Hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến ch nh sách độc quyền quản lý của hà nước về chất ma túy, gây mất tr t tự an ninh xã hội tại địa phương. Các bị cáo Quàng Văn , Quàng Văn T mục đ ch mua bán ma túy để hưởng lợi, thu lợi bất chính. Do đó cần có m c hình phạt nghiêm khắc nh m răn đe giáo dục đối với các bị cáo, trên cơ sở xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của các bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Quàng Văn , Quàng Văn T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ lu t Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Quàng Văn , Quàng Văn T đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị cáo là hai em ruột, là lao động ch nh trong gia đình, là người dân tộc thiểu số cư trú ở v ng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, trình độ hiểu biết pháp lu t có phần hạn chế là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ lu t Hình sự.

Về nhân thân: Các bị cáo Quàng Văn , Quàng Văn T không có tiền án, tiền sự.

Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Các bị cáo Quàng Văn , Quàng Văn T không có tài sản, không có đủ điều kiện và khả năng thi hành hình phạt bổ sung. Do v y Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về nguồn gốc số ma túy bị thu gi : Bị cáo Quàng Văn khai mua của một người đàn ông dân tộc mông không biết họ tên, tuổi, địa chỉ tại khu vực bản Nặm Ún, xã MB, huyện TC, tỉnh Sơn a vào ngày 09/4/2024. goài lời khai của bị cáo không c n ch ng c nào khác ch ng minh. Do đó, buộc các bị cáo Quàng Văn , Quàng Văn T phải chịu trách nhiệm về số ma túy bị thu gi của bị cáo Quàng Văn .

V t ch ng vụ án: Đối với 4,66 gam chất bột cục màu trắng là Heroine, ký hiệu L2 là chất ma túy, thuộc loại hà nước cấm tàng tr , cấm lưu hành; 01 mảnh nilon màu vàng; 01 vỏ phong bì niêm phong v t ch ng ban đầu là công cụ phương tiện các bị cáo d ng vào việc phạm tội, v t không có giá trị cần tịch thu tiêu hủy căn c điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ u t Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ lu t Tố tụng hình sự.

Về án ph : Các bị cáo Quàng Văn , Quàng Văn T thuộc diện hộ nghèo, đều là người dân tộc thiểu số cư trú ở v ng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa các bị cáo có ý kiến xin miễn án phí hình sự sơ thẩm, cần áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 ghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về m c thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph T a án: Miễn án ph hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Quàng Văn , Quàng Văn T.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt

Căn c khoản 1 Điều 251; Điều 58; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ lu t Hình sự:

Tuyên bố các bị cáo Quàng Văn , Quàng Văn T phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy.

ử phạt bị cáo Quàng Văn 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng t . Thời hạn chấp hành hình phạt t t nh từ ngày ngày 09/4/2024.

ử phạt bị cáo Quàng Văn T 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt t t nh từ ngày 09/4/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với các bị cáo Quàng Văn , Quàng Văn T.

2. Về v t ch ng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ u t Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ lu t Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: Một phong bì niêm phong có viền màu xanh đỏ, mặt trước ghi: V t ch ng nh p kho vụ Quàng Văn và Quàng Văn T - MBTPCMT, bắt ngày 09/4/2024. Mặt sau phong bì, dán giấy niêm phong của Công an tỉnh Sơn a số: 067227, đè lên các mép dán của phong bì và trên giấy niêm phong có đầy đủ ch ký, họ tên của các thành phần tham gia niêm phong, người bị bắt và 02 hình dấu đỏ của cơ quan CSĐT Công an huyện TC, tỉnh Sơn a. Bên trong có: 4,66 gam chất bột cục màu trắng là Heroine, ký hiệu L2; 01 mảnh nilon màu vàng + 01 vỏ phong bì niêm phong v t ch ng ban đầu.

(Theo biên bản giao nh n v t ch ng ngày 01/7/2024 gi a Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện TC và Chi cục Thi hành án dân sự huyện TC).

3. Về án ph : Căn c điểm đ khoản 1 Điều 12 ghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về m c thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph T a án: Miễn án ph hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Quàng Văn , Quàng Văn T.

4. Về quyền kháng cáo: Căn c Điều 331, Điều 333 Bộ lu t Tố tụng hình sự: Các bị cáo Quàng Văn , Quàng Văn T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Cỡ chữ