- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: chấp nhận cho chị Đặng Thị Th được ly hôn anh Lê Hồ Hoài L.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ANH SƠN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 152/2024/HNGĐ-ST Ngày: 24 - 12 - 2024 “V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ANH SƠN – TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Hồng Lợi.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Thúy Hằng, Bà Trần Hải Yến.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Anh Tuấn – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số 118/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2024 về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 80/2024/QĐXX-ST ngày 11 tháng 11 năm 2024; Quyết định hoãn phiên toà số 81/2024/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Đặng Thị Th, sinh năm 1989.
Địa chỉ: T9, xã P S, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
Bị đơn: Anh Lê Hồ Hoài L, sinh năm 1987.
Địa chỉ: T9, xã P S, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện (đơn xin ly hôn) ngày 30/8/2024, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Đặng Thị Th trình bày:
- Về tình cảm: chị và bị đơn anh Lê Hồ Hoài L kết hôn với nhau vào ngày 18 tháng 01 năm 2012 tại UBND xã P S, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An. Việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, không có sự ép buộc, không vi phạm các quy định về điều kiện và thủ tục kết hôn. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc cho đến cuối năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên cãi vã, xúc phạm lẫn nhau. Nguyên nhân là do quan điểm, tính cách không phù hợp, anh L không chung thủy, ngoại tình với người phụ nữ khác. Việc mâu thuẫn của vợ chồng chị đã được hai bên gia đình nội ngoại hòa giải nhiều lần, nhưng sau mỗi lần hòa giải tình cảm vẫn không được cải thiện mà ngày càng trầm trọng. Hiện nay vợ chồng chị vẫn sống chung với nhau nhưng chị thấy tình cảm vợ chồng là không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lê Hồ Hoài L.
- Về con chung: quá trình chung sống vợ chồng chị có 02 người con chung tên là Lê Thị Ngọc L, sinh ngày 12/4/2011 và Lê Thị Ngọc Q, sinh ngày 16/11/2018. Nếu ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi cả hai con và không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: vợ chồng chị thỏa thuận tự chia, không yêu cầu tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: vợ chồng chị không vay nợ cá nhân, cơ quan, tổ chức nào cũng như không cho ai vay nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, bị đơn anh Lê Hồ Hoài L vắng mặt mặc dầu đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nên Toà án không thể tiến hành các thủ tục tố tụng theo quy định tại Điều 204; 207; 208 và Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 16/10/2024, cháu Lê Thị Ngọc L có nguyện vọng được ở với chị Đặng Thị Th.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Anh Sơn phát biểu ý kiến theo quy định tại Điều 262 Bộ luật tố tụng dân sự như sau:
- Về tố tụng:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật, bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: đề nghị Hôi đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình: chấp nhận đơn ly hôn của chị Đặng Thị Th. Buộc chị Đặng Thị Th và anh Lê Hồ Hoài L chấm dứt quan hệ hôn nhân kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật; Về con chung: giao con chung tên là Lê Thị Ngọc L và Lê Thị Ngọc Q cho chị Đặng Thị Th trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con trưởng thành. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh Lê Hồ Hoài L. Về tài sản chung: chị Đặng Thị Th không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét; Về án phí: chị Đặng Thị Th phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
Đây là vụ án hôn nhân gia đình về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn: bị đơn hiện cư trú tại T9, xã P S, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An nên Tòa án nhân dân huyện Anh Sơn thụ lý giải quyết là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn anh Lê Hồ Hoài L đã được tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập để trình bày ý kiến, các Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, các Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn là đúng theo quy định tại Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn không nộp văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là vi phạm nghĩa vụ giao nộp chứng cứ. Tòa án căn cứ vào các tài liệu chứng cứ mà nguyên đơn đã giao nộp và Tòa án thu thập được để giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 96 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn và bị đơn có tranh chấp về người trực tiếp nuôi con chưa thành niên khi ly hôn nên theo quy định, Tòa án xác minh nguyên nhân phát sinh tranh chấp tại UBND xã P S, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 208 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Xét chị Đặng Thị Th và anh Lê Hồ Hoài L kết hôn với nhau vào ngày 18 tháng 01 năm 2012 tại UBND xã P S, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An. Việc kết hôn là tự nguyện, không có sự ép buộc, không vi phạm các quy định về điều kiện và thủ tục kết hôn tại Điều 8, Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Như vậy hôn nhân giữa chị Th và anh L là hợp pháp.
Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc cho đến cuối năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Theo chị Th nguyên nhân mâu thuẫn do quan điểm, tính cách không phù hợp, anh L không chung thủy ngoại tình với người phụ nữ khác. Tại phiên tòa anh L vắng mặt không có ý kiến trình bày nhưng qua xác minh tại địa phương cho thấy giữa vợ chồng chị Th và anh L thường xuyên xẩy ra mâu thuẫn không thể hàn gắn được.
Xét thấy, giữa chị Th và anh L mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy cần cần áp dụng Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình 2014, xử cho chị Th được ly hôn với anh L.
Về con chung: chị Th và anh L có 02 người con chung tên là Lê Thị Ngọc L, sinh ngày 12/4/2011 và Lê Thị Ngọc Q, sinh ngày 16/11/2018. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa chị Th vẫn giữ nguyên nguyện vọng được nuôi cả hai con và không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.
Xét thấy khi cha, mẹ ly hôn, việc giao con chưa thành niên cho ai trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cũng phải nhằm đảm bảo cho con sự phát triển tốt nhất cả về vật chất và tinh thần. Như vậy nguyện vọng của chị Th là chính đáng, thể hiện tinh thần và trách nhiệm của mẹ dành cho con và cũng phù hợp với nguyện vọng của con, căn cứ vào lời trình bày của chị Th về điều kiện nuôi con thấy rằng: hiện nay chị Th đang làm công nhân cho công ty giao hàng nhanh GHN có địa chỉ tại tổ dân phố 4, thị trấn A S, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An thu nhập ổn định với mức trung bình 8.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng/tháng, ngoài ra chị còn trồng trọt và chăn nuôi với mức thu nhập bình quân từ 4.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng/tháng. Mặt khác qua xác minh tại địa phương thấy rằng, hiện nay anh L đi làm ăn xa không có mặt ở địa phương nên việc giao con cho anh L nuôi dưỡng là không đảm bảo điều kiện về mọi mặt cho con. Vì vậy để đảm bảo cho sự phát triển toàn diện về thể chất cũng như tinh thần cần chấp nhận giao con chung là Lê Thị Ngọc L và Lê Thị Ngọc Q cho chị Th trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con trưởng thành, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh L do chị Th không yêu cầu.
Về tài sản chung: do các đương sự đã tự thỏa thuận với nhau và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên căn cứ vào khoản 1 Điều 5 của Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: chị Đặng Thị Th phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 207, 227 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: chấp nhận cho chị Đặng Thị Th được ly hôn anh Lê Hồ Hoài L.
- Về con chung: giao con chung tên là Lê Thị Ngọc L, sinh ngày 12/4/2011 và Lê Thị Ngọc Q, sinh ngày 16/11/2018 cho chị Đặng Thị Th trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu Ly và cháu Quỳnh tròn 18 tuổi, trưởng thành. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh Lê Hồ Hoài L do chị Đặng Thị Th không yêu cầu.
Anh L có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Nếu anh L lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị Th có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh L.
Chị Th cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh L trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Về án phí: áp dụng khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc chị Đặng Thị Th phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Th đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An theo biên lai thu tiền số 0007959 ngày 08 tháng 10 năm 2024.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Các đương sự;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
- VKSND H. Anh Sơn;
- Chi cục THADS H. Anh Sơn;
- UBND xã P S;
- Lưu Hồ sơ, VP;
Phan Hồng Lợi
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Các hội thẩm nhân dân
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
Phan Hồng Lợi Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Các đương sự;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
- VKSND H. Anh Sơn;
- Chi cục THADS H. Anh Sơn;
- UBND xã P S;
- Lưu Hồ sơ, VP;
Phan Hồng Lợi
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Các hội thẩm nhân dân
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
Phan Hồng Lợi
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND H. Anh Sơn; - Chi cục THADS H. Anh Sơn; - UBND xã Cẩm Sơn; - Lưu Hồ sơ, VP; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phan Hồng Lợi |