vanban.org

Bản án 152/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Cho Anh Bùi Văn D được ly hôn chị Nguyễn Thị H.

Về con chung: Buộc chị Nguyễn Thị H giao cháu Bùi Duy H1, sinh ngày 01/11/2018 và cháu Bùi Bảo A, sinh ngày 25/02/2014 cho anh Bùi Văn D trực tiếp nuôi dưỡng kể từ tháng 10 năm 2024 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi (trưởng thành). Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với chị Nguyễn Thị H. Bên … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bùi Văn D ly hôn Nguyễn Thị H"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho Anh Bùi Văn D được ly hôn chị Nguyễn Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUỲ HỢP
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 152/2024/HNGĐ - ST
Ngày 27/09/2024
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ HỢP – TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Quán Vi Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đặng Thế Quế.

2. Bà Hoàng Thị Đào.

Thư ký phiên toà: Ông Trần Anh Quân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Hồng Lĩnh – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 09 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳ, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 70/2024/TLST – HNGĐ ngày 27 tháng 05 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 93/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 12 tháng 09 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Bùi Văn D, sinh năm 1989. Địa chỉ: xóm L, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An.

(Có đơn xin xét xử vắng mặt)

1. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1990. Địa chỉ: xóm L, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An.

(Vắng mặt lần thứ 2)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn xin ly hôn nộp ngày 16/05/2024 và tại Bản tự khai, Biên bản lấy lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là anh Bùi Văn D trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Bùi Văn D và chị Nguyễn Thị H làm thủ tục đăng ký kết hôn ngày 13/04/2012 tại UBND xã Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Sau một thời gian chung sống hai vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Chị H và anh D thường xuyên cãi vã, cuộc sống không hạnh phúc nên anh chị đã sống ly thân khoảng 04 năm. Nhận thấy cuộc sống chung không hạnh phúc nên anh Bùi Văn D làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An giải quyết ly hôn với chị Nguyễn Thị H.

Về con chung: Anh Bùi Văn D và chị Nguyễn Thị H có hai con chung là Bùi Duy H1, sinh ngày 01/11/2018 và Bùi Bảo A, sinh ngày 25/2/2014. Nếu ly hôn, anh Bùi Văn D xin được nuôi dưỡng cháu Bùi Duy H1 và giao cháu Bùi Bảo A cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi trưởng thành. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh Bùi Văn D không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn chị Nguyễn Thị H mặc dù đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý, Giấy triệu tập, Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng trong phiên tòa hôm nay chị Nguyễn Thị H vẫn vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Không có văn bản trình bày ý kiến của mình về nội dung đơn khởi kiện của nguyên đơn.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp tại phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi đưa vụ án ra xét xử; quá trình thu thập chứng cứ, hỏi và tranh luận tại phiên tòa đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Đối với nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự. Đối với bị đơn chưa chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự. Về việc giải quyết nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51; 56; 81; 82; 83; 84 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39; điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 BLTTDS.

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Bùi Văn D. Cho anh Bùi Văn D và chị Nguyễn Thị H ly hôn.

Về con chung: Đề nghị HĐXX giao cháu Bùi Duy H1, sinh ngày 01/11/2018 và cháu Bùi Bảo A, sinh ngày 25/02/2014 cho anh Bùi Văn D trực tiếp nuôi dưỡng kể từ tháng 10/2024 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi trưởng thành. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với chị Nguyễn Thị H.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh Bùi Văn D không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị không phải xem xét giải quyết thêm.

Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội buộc anh Bùi Văn D phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Anh Bùi Văn D và chị Nguyễn Thị H đăng ký kết hôn ngày 13/04/2012 tại UBND xã Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Do đó, vụ án này được xác định là “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn”, theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn chị Nguyễn Thị H hiện đang đăng ký hộ khẩu thường trú tại xóm L, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Bùi Văn D có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn Nguyễn Thị H mặc dù được toà án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do tại các buổi lấy lời khai, công khai chứng cứ, hoà giải và tại phiên toà ngày hôm nay. Vì vậy, toà án không thể tiến hành hoà giải theo Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự được. Căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Bùi Văn D và chị Nguyễn Thị H đăng ký kết hôn ngày 13/04/2012 tại UBND xã Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân của hai bên đảm bảo về điều kiện kết hôn và đúng nghi thức theo quy định pháp luật nên là hôn nhân hợp pháp. Trong thời gian chung sống do bất đồng quan điểm lối sống, các bên đã không tìm được giải pháp khắc phục mâu thuẫn nên đã sống ly thân. Quá trình giải quyết vụ án, toà án đã tạo điều kiện cho các bên hàn gắn tình cảm, đoàn tụ nhưng chị Nguyễn Thị H vắng mặt nên không tiến hành hoà giải được. Anh Bùi Văn D xin được ly hôn với chị Nguyễn Thị H. Chị Nguyễn Thị H không có ý kiến về yêu cầu khởi kiện ly hôn của anh Bùi Văn D. Xét thấy cuộc sống hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình cho anh Bùi Văn D và chị Nguyễn Thị H ly hôn.

Về con chung: Căn cứ vào kết quả xác minh tại địa phương, xem xét hoàn cảnh, môi trường sống và ý kiến của con. Nguyện vọng của đương sự và xét về khả năng chăm sóc nuôi dưỡng cần giao cho anh Bùi Văn D nuôi dưỡng con chung là Bùi Duy H1, sinh ngày 01/11/2018 và Bùi Bảo A, sinh ngày 25/02/2014 là hợp lý. Giao cháu Bùi Duy H1 và cháu Bùi Bảo A cho anh Bùi Văn D trực tiếp nuôi dưỡng kể từ tháng 10 năm 2024 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi (trưởng thành). Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với chị Nguyễn Thị H.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh Bùi Văn D không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét thêm.

[ 3 ] Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, anh Bùi Văn D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53; khoản 1 Điều 56; 81; 82; 83; 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 BLTTDS; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

Về quan hệ hôn nhân: Cho Anh Bùi Văn D được ly hôn chị Nguyễn Thị H.

Về con chung: Buộc chị Nguyễn Thị H giao cháu Bùi Duy H1, sinh ngày 01/11/2018 và cháu Bùi Bảo A, sinh ngày 25/02/2014 cho anh Bùi Văn D trực tiếp nuôi dưỡng kể từ tháng 10 năm 2024 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi (trưởng thành). Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với chị Nguyễn Thị H.

Bên không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của con chung khi có căn cứ hoặc có lý do chính đáng có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về án phí: Anh Bùi Văn D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng). Được khấu trừ số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) anh Bùi Văn D đã nộp tiền tạm ứng án phí theo biên lai số: 0006163 ngày 24 tháng 05 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An. Anh Bùi Văn D đã nộp đủ tiền án phí.

Quyền kháng cáo: Vụ án xét xử sơ thẩm công khai vắng mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai đối với nguyên đơn, bị đơn.

Cỡ chữ