vanban.org

Bản án 152/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Duy T. Về hôn nhân: Ông Nguyễn Duy T được ly hôn với bà Phạm Hồng N. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Thanh - Nhiệm"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN MỸ XUYÊN
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:152/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 31/12/2024.
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Dương Hải.
- Các Hội thẩm nhân dân : 1. Ông Huỳnh Văn Hiệp
huyện Mỹ Xuyên.
tham gia phiên tòa: Ông Đặng Văn Tài – Kiểm sát viên.
xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 243/2024/TLST-HNGĐ, ngày 28
tháng 02 năm 2024 về việc “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định
đưa vụ án ra xét xử số: 335/2024/QĐ-ST, ngày 12/12/2024 giữa các đương sự:
mặt).
Địa chỉ: Ấp H , xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.
Địa chỉ: Ấp V, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.
Ngày 31 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên,

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Tại đơn khởi kiện đề ngày 01/10/2024 nguyên đơn ông Nguyễn Duy T trình bày: Vào năm 2016 ông Nguyễn Duy T và bà Phạm Hồng N kết hôn với nhau trên tinh thần tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. Sau khi kết hôn vợ chồng sống cũng hạnh phúc cho đến khoảng năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, lý do là tính tình không hợp, bất đồng quan điểm và vợ chồng sống không hạnh phúc. Vì vậy vợ chồng đã sống ly thân từ đó đến nay và không hàn gắn, đoàn tụ lại được. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống với nhau nữa nên ông T yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà N. Về con chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng có 01 con chung tên: Nguyễn Kim T1, sinh ngày 14/10/2017 hiện nay đang sống với bà N. Nay về con chung ông T thống để bà N tiếp tục nuôi cháu T1, ông không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng không có tài sản và không nợ ai tài sản gì nên không yêu cầu toà án giải quyết.

- Bị đơn bà Phạm Hồng N trình bày: Bà N thống nhất với lời trình bày của ông T về thời gian kết hôn, thủ tục kết hôn cũng như về con chung, tài sản chung, nợ chung. Nay ông T yêu cầu ly hôn bà N cũng đồng ý, về con chung bà yêu cầu được nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông T phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung không có nên không yêu cầu giải quyết.

* Tại phiên toà kiểm sát viên phát biểu về đường lối giải quyết vụ án là đề nghị HĐXX cho ông T được ly hôn với bà N. Về con chung giao cho bà N được trực tiếp nuôi dưỡng 01 con chung là cháu Nguyễn Kim T1, sinh ngày 14/10/2017, ông T không phải cấp dưỡng nuôi con. Ông T được quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được quyền ngăn cản. Về tài sản chung, nợ chung, không có yêu cầu nên không đặt vấn đề xem xét. Đối với việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Đối với nguyên đơn và bị đơn đều đã có đơn yêu cầu xin xét xử vắng mặt. Vì vậy áp dụng điểm b, khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt ông T và bà N theo quy định pháp luật.

Về nội dung:

Về hôn nhân:

Ông Nguyễn Duy T và bà Phạm Hồng N tự nguyện kết hôn với nhau vào năm 2016 và được Ủy ban nhân dân xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn theo quy định. Thời gian đầu hai vợ chồng chung sống với nhau rất hạnh phúc, sau đó đến năm 2023 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm, và cuối cùng vợ chồng đã sống ly thân từ đó cho đến nay không hàn gắn lại được.

Xét thấy, do trong quá trình chung sống giữa ông T và bà N không hợp tính tình, bất đồng quan điểm sống, do đó vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, sống không hạnh phúc, ông bà đã sống ly thân thời gian dài mà không có điều kiện hàn gắn trở lại. Từ đó cho thấy, mâu thuẫn tình cảm vợ chồng giữa hai người là trầm trọng, cuộc sống chung không có cơ sở để tồn tại, dẫn đến mục đích hôn nhân xây dựng gia đình hạnh phúc không thể đạt được. Do vậy việc ông T yêu cầu được ly hôn với bà N là có căn cứ để chấp nhận theo quy định của pháp luật.

- Về con chung: Trong quá trình chung sống, ông T và bà N đã có với nhau 01 con chung là cháu Nguyễn Kim T1, sinh ngày 14/10/2017 hiện nay cháu T1 đang sống với bà N. Nay về con chung ông T cũng thống nhất cho bà N được tiếp tục nuôi dưỡng cháu T1 cho đến khi cháu T1 đủ 18 tuổi. Xét thấy, từ khi ông T và bà N sống ly thân thì cháu T1 sống với bà N, nay bà N cầu được nuôi con chung, phía ông T cũng thống nhất để bà N nuôi con, vì vậy cần tiếp tục để cháu T1 được tiếp tục sống với bà N và giao cháu T1 cho bà N được quyền trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi là phù hợp, ông T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền cản trở.

- Về đóng góp cấp dưỡng nuôi con: Do bà N không yêu cầu ông T đóng góp cấp dưỡng nuôi con vì vậy HĐXX không đặt ra xem xét Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với ông T.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét.

+ Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì ông T phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn.

Đối với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Toàn bộ quan điểm, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Xuyên đã nêu là có căn cứ và phù hợp với những tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét, đánh giá tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát đã nêu.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147; Khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271; khoản 1 Điều 273; khoản 1 Điều 280, của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

- Khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, khoản 1, khoản 3 Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Duy T.

- Về hôn nhân: Ông Nguyễn Duy T được ly hôn với bà Phạm Hồng N.

- Về con chung: Bà N được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 01 con chung tên Nguyễn Kim T1, sinh ngày 14/10/2017 cho đến khi cháu T1 đủ 18 tuổi. Ông T không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm nom chăm sóc con cho ông T không ai được quyền cản trở.

- Về tài sản chung: Không có nên không đặt ra xem xét giải quyết.

- Về nợ chung: Không có nên không đặt ra xem xét giải quyết.

- Án phí hôn nhân sơ thẩm: Ông T phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng đã nộp 300.000đ, theo biên lai thu tiền số 0005633, ngày 21/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Xuyên, ông T đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hoặc ngày niêm yết bản án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ