- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng Trữ Trái Phép Chất Ma Túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trương Quốc K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ R TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 152/2023/HS-ST Ngày: 02-8-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ R, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Văn Thậm
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Trung Dũng và bà Nguyễn Thị Thùy Ngân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Tú – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố R tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Anh Thư - Kiểm sát viên.
Trong ngày 02 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố R, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 161/2023/TLST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử vụ án hình sự sơ thẩm số 162/2023/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:
Trương Quốc K, sinh ngày 12/4/2001. Nơi sinh: huyện C, tỉnh Kiên Giang.
Nơi ĐKTT: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Kiên Giang; Chỗ ở: Ấp T, xã M, huyện C, tỉnh Kiên Giang. Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Thanh H (hiện nay không rõ còn sống hay đã chết) và bà Trương Diễm T; anh, em ruột: 02 người, lớn sinh năm 1999, nhỏ sinh năm 2005; Vợ: Nguyễn Thị D, sinh năm 2001; Tiền án, tiền sự: Chưa.
* Nhân thân:
- Ngày 06/9/2017, bị Toà án nhân dân huyện C, tỉnh Kiên Giang xử phạt 03 (ba) năm tù giam về tội Cướp giật tài sản. Chấp hành án tại trại giam Long Hòa, tỉnh Long An, ngày 25/4/2019 chấp hành xong, đã xóa án tích.
- Ngày 26/02/2023, thực hiện hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố R bắt quả tang. Tạm giữ từ ngày 26/02/2023 đến ngày 07/3/2023 thì bị khởi tố và tạm giam theo Lệnh tạm giam số 34 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố R. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà Tạm giữ Công an thành phố R, tỉnh Kiên Giang. Bị cáo có mặt tại tòa.
* Người chứng kiến:
1. Lê Trịnh Tuấn D, sinh năm 2003. Địa chỉ: Số 694 đường M, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt).
2. Tô Thanh Q, sinh năm 1999. Địa chỉ: Số 10/01 đường C, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 16 giờ 30 phút, ngày 26/02/2023, tại khu vực hẻm 28, đường S, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố R phối hợp cùng Công an phường V bắt quả tang Trương Quốc K, đang tàng trữ trái phép chất ma túy. Kiểm tra, thu giữ trong lòng bàn tay phải của K 03 (ba) bịch nylon trong suốt có rãnh gài viền màu đỏ bên trong mỗi bịch có chứa các hạt chất rắn, dạng tinh thể, không đồng nhất.
Qua điều tra xác định, Trương Quốc K bắt đầu sử dụng trái phép chất ma túy, loại ma túy đá từ đầu năm 2023, nhưng không thường xuyên. Nguồn ma túy trên, do trước đó vào 16 giờ ngày 26/02/2023 K có nhu cầu sử dụng trái phép chất ma túy nên đã thuê xe ôm đến khu vực cầu A, phường A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang gặp một người đàn ông tên Tâm (không biết tên thật, địa chỉ) mua 03 (ba) bịch ma túy đá với giá 5.000.000 đồng. Sau khi có được ma túy, K tiếp tục thuê xe ôm đến đầu hẻm 28, đường S, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang để tìm nơi sử dụng ma túy. Đến 16 giờ 30 phút, ngày 26/02/2023, khi K đi bộ một mình trong hẻm 28, đường S, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang, thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố R phối hợp cùng Công an phường V kiểm tra bắt quả tang cùng tang vật. Ngoài ra, K khai nhận trước đó còn mua ma túy 01 lần tại của một người không rõ họ tên, lai lịch ở khu vực đầu lộ Giục Tượng, huyện C, tỉnh Kiên Giang và đã sử dụng cá nhân hết.
Ngày 07/3/2023, Trương Quốc K bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố R khởi tố, tạm giam để điều tra. Trong quá trình điều tra, truy tố bị can thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.
* Việc thu giữ tài liệu, đồ vật: 03 (ba) bịch nylon trong suốt có rãnh gài viền màu đỏ bên trong mỗi bịch có chứa các hạt chất rắn, dạng tinh thể, không đồng nhất.
* Kết luận giám định số 201/KL-KTHS ngày 06/3/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang, kết luận: Các hạt chất rắn, dạng tinh thể không đồng nhất chứa trong 03 (ba) bịch nylon trong suốt có rãnh gài viền màu đỏ được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 25,2249 gam.
Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
* Bản Cáo trạng số 179/CT-VKSRG ngày 06/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố R, tỉnh Kiên Giang truy tố bị cáo Trương Quốc K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa: Bị cáo Trương Quốc K đã khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo như đã nêu trên. Bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố R, tỉnh Kiên Giang vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng: Điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trương Quốc K mức án từ 07 (bảy) năm đến 08 (tám) năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy ma túy còn lại sau giám định là 01 (một) phong bì niêm phong mẫu vật, có ký hiệu vụ số 201/2023, có chữ ký của giám định viên Lê Đức Huy, người chứng kiến niêm phong Võ Thị Thủy Tiên và hình dấu tròn của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang.
Theo lệnh nhập kho vật chứng số 50 ngày 21/3/2023 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố R.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an thành phố R, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố R, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Hội đồng xét xử xét thấy, tại phiên toà hôm nay bị cáo Trương Quốc K đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Vào lúc 16 giờ 30 phút, ngày 26/02/2023, tại khu vực hẻm 28, đường S, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố R bắt quả tang Trương Quốc K đang tàng trữ trái phép chất ma túy, kiểm tra thu giữ trong lòng bàn tay phải của K 03 (ba) bịch nylon trong suốt có rãnh gài viền màu đỏ bên trong mỗi bịch có chứa các hạt chất rắn, dạng tinh thể, không đồng nhất, qua giám định là ma túy loại Methamphetamine có khối lượng là 25,2249 gam. Nguồn ma túy trên do Trương Quốc K mua của một người đàn ông tên Tâm (không biết tên thật, địa chỉ) với giá 5.000.000 đồng, nhằm mục đích để sử dụng cá nhân.
Từ những chứng cứ đã nêu trên, có đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo Trương Quốc K đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự như đã viện dẫn nêu trên.
Xét về tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo ý thức được việc sử dụng và tàng trữ trái phép chất ma túy là hành vi vi phạm pháp luật, bất kỳ ai vi phạm đều bị xử lý nghiêm. Hành vi phạm tội của bị cáo Trương Quốc K là rất nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất về ma túy. Bản thân bị cáo có đủ năng lực biết rất rõ tác hại của ma túy ảnh hưởng như thế nào đối với sức khỏe, tinh thần của con người và cũng là tiền đề tạo ra nhiều tệ nạn xấu, đặc biệt là dễ dẫn đến nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác làm mất trật tự trị an xã hội, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng xấu đến bản thân bị cáo nói riêng và cộng đồng xã hội nói chung. Vì vậy Nhà nước luôn chú trọng việc đấu tranh phòng ngừa và xử lý nghiêm đối với loại tội phạm này. Nhưng bị cáo vẫn bất chấp pháp luật cố ý lao vào con đường phạm tội. Do đó, cần xử bị cáo một mức hình phạt tương xứng đối với tội trạng của bị cáo và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, để răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt, cũng đồng thời ngăn ngừa chung loại tội phạm này trong xã hội.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Hội đồng xét xử xem xét trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo, có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự làm tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo khi lượng hình.
Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về việc định tội danh, khung hình phạt cũng như việc áp dụng các điều luật để xử lý vụ án là có căn cứ pháp luật. Tuy nhiên, về mức hình phạt có phần hơi nghiêm khắc đối với bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, điều kiện kinh tế gia đình khó khăn; đồng thời bị cáo cũng không đảm nhiệm chức vụ, không hành nghề cũng như không làm công việc gì nhất định. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
Về Xử lý vật chứng. Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy ma túy còn lại sau giám định là 01 (một) phong bì niêm phong mẫu vật, có ký hiệu vụ số 201/2023, có chữ ký của giám định viên Lê Đức Huy, người chứng kiến niêm phong Võ Thị Thủy Tiên và hình dấu tròn của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang. Theo Quyết định chuyển vật chứng số 129/QĐ-VKSRG ngày 06/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Về các vấn đề khác của vụ án: Đối với người tên Tâm đã bán ma túy cho Trương Quốc K hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục điều tra làm rõ, khi có đủ căn cứ sẽ xử lý sau.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Trương Quốc K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trương Quốc K mức án 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ ngày 26/02/2023.
2. Về xử lý vật chứng. Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy ma túy còn lại sau giám định là 01 (một) phong bì niêm phong mẫu vật, có ký hiệu vụ số 201/2023, có chữ ký của giám định viên Lê Đức Huy, người chứng kiến niêm phong Võ Thị Thủy Tiên và hình dấu tròn của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang.
Theo Quyết định chuyển vật chứng số 129/QĐ-VKSRG ngày 06/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án; Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 02/8/2023).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Kiên Giang; - Viện kiểm sát cùng cấp; - Cơ quan THA Tp.R; - Công an thành phố R; - Bị cáo, người TGTT; - Lưu hồ sơ. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Văn Thậm |