vanban.org

Bản án 152/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 12/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bị cáo Đặng Thế P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Ôn Duy T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Đặng Thế P 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tự nguyện hoặc áp giải thi hành án. Ôn Duy T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 08 tháng 5 năm 2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phuc Tiến- tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Bị cáo Đặng Thế P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Ôn Duy T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH CỬU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐỒNG NAI
Bản án số: 152/2023/HS-ST
Ngày 12 - 9 - 2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG H XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU, TỈNH ĐỒNG NAI

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Kim Đính

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Anh, bà Nguyễn Ngọc Cúc.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Đức Hoàng là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy là Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 9 năm 2023 tại Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 155/2023/TLST-HS ngày 24 tháng 8 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 173/2023/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2023, đối với các bị cáo:

1. Đặng Thế P, sinh năm 19.., tại tỉnh Đồng Nai;

Nơi đăng ký thường trú: ấp Tân Thành, xã Thanh Bình, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

Nơi cư trú: Khu phố Q, thị trấn Vĩnh An, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.

Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Hoa; tôn giáo: Phật giáo; trình độ văn hóa (học vấn): Không biết chữ; nghề nghiệp: ao động tự do; con ông Đặng N, không rõ năm sinh, đã chết và con bà Thái M, sinh năm 1960; đã ly hôn vợ là Lê Thị K, sinh năm ...; có 02 con, sinh năm 2002 và năm 2004; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại.

2. Ôn Duy T, sinh năm 19.., tại tỉnh Đồng Nai;

Nơi cư trú: Khu phố Đ, phường Hóa An, thành phố i n Hòa, tỉnh Đồng Nai.

Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; nghề nghiệp: Tài xế; con ông Ôn V, sinh năm 1968 và con bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1970; vợ Trương M, sinh năm 1997; có 01 con sinh năm 2015; tiền sự: Không; tiền án: Ngày 18/01/2017, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên H, tỉnh Đồng Nai xử phạt 07 năm tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị tạm giữ ngày 08/5/2023, tạm giam ngày 17/5/2023.

* Người làm chứng:

Dương Văn S, sinh năm 1984 (nơi cư trú tại khu phố 3, thị trấn Vĩnh An, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai)

Hà Đăng H, sinh năm 1983; Thái Xuân H, sinh năm 1971 (cùng nơi cư trú tại khu phố D, thị trấn Vĩnh An, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai).

(Các bị cáo có mặt tại phiên tòa, người làm chứng vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 06/5/2023, bị cáo Ôn Duy T điều khiển e mô tô Waves biển số 59S2 - 36829 đến thị trấn Vĩnh An t m Phan Thị H (thường trú khu phố C, thị Trấn Vĩnh An, huyện Vĩnh Cửu) để đòi tiền nợ nhưng H h n ngày hôm sau trả tiền Tr n đường đi T gặp Huỳnh A - sinh năm 1985 (cư trú t R, khu phố H, thị trấn Vĩnh An, huyện Vĩnh Cửu), T kêu Đạt thu phòng ở tại nhà nghỉ “Dương Ảnh” thuộc khu phố 3, thị trấn Vĩnh An, huyện Vĩnh Cửu Đến khoảng 10 giờ ngày 07/5/2023, T muốn sử dụng ma túy nên sử dụng điện thoại LG Wing số 0934978368 đăng ký Zalo Duy T gọi qua Zalo “Du y Duong” nhờ H mua 300 000 đồng ma túy đá Khoảng 11 giờ cùng ngày, H đến quán cà ph “Hoa iển” thuộc Khu phố 2, thị trấn Vĩnh An, huyện Vĩnh Cửu gặp bị cáo P đã mua 300 000 ma túy Sau đó, H gửi định vị để T điều khiển e mô tô Waves biển số 59S2- 36829 đến quán “Hoa iển” gặp H và P. Khi T đến th H đưa P 300 000 đồng, P nhận tiền rồi đi ra ch lề đường cách quán khoảng 15mét lấy 01 bịch ma túy đưa T nhận ma túy quay lại nhà nghỉ Dương Ảnh cùng H, P. H nói P trả lại 300 000 đồng, đến nhà nghỉ T s gửi tiền qua tài khoản Momo trả P Tại nhà nghỉ, T sử dụng tài khoản Momo đăng ký số điện thoại 0762222705 chuyển 50 000 đồng vào tài khoản Momo đăng ký số điện thoại 0938723933 của P.

Tại nhà nghỉ Dương Ảnh bị cáo T đang lấy nỏ thủy tinh màu trắng để sử dụng ma túy (chưa sử dụng ma túy) thì Công an thị trấn Vĩnh An đến kiểm tra, lập bi n bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng chuyển Công an huyện Vĩnh Cửu giải quyết theo thẩm quyền

+ Vật chứng thu giữ:

Thu tại phòng số 16 nhà nghỉ Dương Ảnh: 01 bịch ny lon hàn kín b n trong chứa tinh thể màu trắng (ni m phong theo quy định);

Thu dưới nền nhà nghỉ: 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm 01 nắp nhựa màu trắng gắn 01 tẩu thủy tinh và 01 ống hút (ni m phong theo quy định);

Thu của Đặng Thế P 01 điện thoại di động hiệu Oppo A9 2020, 01 e mô tô biển số 60 N7-9871, số máy 02016660, số khung RNDWCHIND61N16660; Ôn Duy T 01 điện thoại di động hiệu G Wing, 01 e mô tô biển số 59S2-368 29 số máy HC 12E155919, số khung R HHC12049Y526191

+ Kết quả xác minh nguồn gốc xe:

Xe mô tô biển số 60N7-9781 của Thái Xuân H - sinh năm 1971, cư trú tại khu phố 2, thị trấn Vĩnh An, huyện Vĩnh Cửu. Ngày 07/5/2023 H gửi xe cho cháu ruột là Đặng Thế P tại quán cà ph “Hoa iển” để đi khám bệnh, sau đó P tự ý điều khiển e đến nhà nghỉ “Dương Ảnh”

Xe mô tô biển số 59S2-368.29 số máy HC12E1557919, số khung R HHC12049Y526191 Qua tra cứu biển số e và số khung, số máy không phù hợp: Xe mô tô biển số 59S2-368 29, số máy: E3N4E064191, số khung: RLCSE7610FY064178 của Hà Thu Th -ở 23D/18, Phan Đăng ưu, phường C, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh, không n m trong hệ thống e máy vật chứng Số máy HC12E1557919, số khung R HHC12049Y526191 không ác định được chủ sở hữu T khai mua xe mô tô trên của Nguyễn Hữu T - sinh năm 1984 (số nhà 379 is, ùi Đ nh Túy, phường 24, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh) năm 2023 nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Ngày 07/5/2023, T điều khiển xe mô tô trên đi mua ma túy sử dụng Cơ quan Công an chưa làm việc được đối với Th và T n n Cơ quan Cảnh sát Điều tra chuyển Công an huyện Vĩnh Cửu Vĩnh Cửu giải quyết theo thẩm quyền

Xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát Điều tra đã trả lại Thái Xuân H xe mô tô biển số 60N7-9781.

Tại Kết luận giám định số 976/K -KTHS ngày 12/5/2023 của Phòng kỹ thuật h nh sự Công an tỉnh Đồng Nai, kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng được ni m phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,1530 gam ma túy, loại Methamphetmine. Hoàn lại đối tượng giám định: Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 0,1092 gam trong ni m phong số 976/K -KTHS ( út lục số: 19-22)

Cáo trạng số 155/CT-VKSVC ngày 24 tháng 8 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai truy tố các bị cáo: Đặng Thế P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Ôn Duy T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

* Tại phiên tòa Kiểm sát vi n luận tội như sau:

Lời khai của các bị cáo phù hợp tài liệu vụ án, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo đúng quy định pháp luật. Hành vi của các bị cáo nguy hiểm trong xã hội nên áp dụng hình phạt tù đối với các bị cáo.

Xét các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo P không có tiền án tiền sự, đang bị bệnh suy tim thận nên xét giảm nh hình phạt theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 để giảm nh hình phạt cho bị cáo T.

Bị cáo T có tiền án lại phạm tội là tái phạm nên áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo P; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo T. Tuyên bố các bị cáo: Đặng Thế P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Ôn Duy T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Đặng Thế P 02 năm tù đến 02 năm 04 tháng tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Ôn Duy T 14 tháng tù đến 16 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Đối với người nam dân tộc Khơmer bán ma túy với bị cáo P tại ã Thanh nh, huyện Trảng om và Phan Thị H mua bán trái phép ma túy nhưng Cơ quan Điều tra chưa làm việc được với H, chưa đủ chứng cứ để xử lý những người này Y u c u Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Vĩnh Cửu tiếp tục ác minh ử lý theo quy định.

Đối với Huỳnh Tấn Đ không có tham gia mua ma túy cùng bị cáo T, Dương Văn S quản lý nhà nghỉ không biết bị cáo T thu phòng để sử dụng ma túy n n không đồng phạm trong vụ án.

- Về vật chứng: Căn cứ các Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy ma túy mẫu vật còn lại sau giám định niêm phong số 976/KL-KTHS ngày 12/5/2023 của Công an tỉnh Đồng Nai; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm 01 nắp nhựa màu trắng, 01 tẩu thủy tinh, 01 ống hút.

Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Oppo A9 2020; 01 điện thoại di động hiệu LG Wing;

uộc Đặng Thế P nộp 50 000 đồng thu lợi do bán ma túy mà có

* Bị cáo T trình bày ý kiến: Nội dung Cáo trạng đúng sự thật, bị cáo nói lời sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghị án là đề nghị Hội đồng xét xử giảm nh hình phạt.

* Bị cáo P trình bày ý kiến: Nội dung Cáo trạng và ý kiến của bị cáo T đúng sự thật; bị cáo không có ý kiến tranh luận, bị cáo nói lời sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghị án là đề nghị Hội đồng xét xử giảm nh hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Tr n cơ sở nội dung vụ án, căn cứ tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hoạt động T hành tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai và Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, đến nay các bị cáo không có khiếu nại. Hoạt động T hành tố tụng của Công an huyện Vĩnh Cửu và Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu phù hợp pháp luật.

. Về trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo đồng ý về hành vi thực hiện tội phạm theo nội dung Cáo trạng là đúng sự thật, ý kiến trình bày của các bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan Cảnh sát Điều tra và chứng cứ khác, như vật chứng, Kết luận giám định là các chứng cứ chứng minh: Bị cáo P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đ i, b sung năm 2017); bị cáo T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đ i, b sung năm 2017).

Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo đúng quy định của pháp luật.

* Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

Các bị cáo có đ y đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của m nh để nhận biết hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, góp ph n gây tác hại đối với sức khỏe con người, làm phát sinh một số tội phạm khác, xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự xã hội tại địa phương

Trong vụ án này, các bị cáo phạm tội độc lập. Bị cáo P có hành vi bán ma túy, đối với bị cáo T tàng trữ ma túy để sử dụng. Hành vi của các bị cáo nguy hiểm trong xã hội nên c n phải áp dụng hình phạt tù tương ứng với tính chất hành vi phạm tội để giáo dục các bị cáo và phòng ngừa tội phạm.

Bị cáo T đang có tiền án tiếp tục phạm tội là tái phạm nên áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo theo điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đ i, b sung năm 2017).

Tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo; bị cáo P không có tiền án tiền sự, đang bị bệnh suy tim suy thận nặng nên áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đ i, b sung năm 2017) đối với bị cáo P; áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đ i, b sung năm 2017) đối với bị cáo T để giảm nh trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo.

Bị cáo P khai có một người nam dân tộc Khơmer bán ma túy với bị cáo tại ã Thanh nh, huyện Trảng om và Phan Thị H bán trái phép ma túy nhưng Cơ quan Điều tra chưa làm việc được với H nên chưa đủ căn cứ để xử lý những người này, Công an huyện Vĩnh Cửu đang ác minh ử lý theo quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chỉ xét xử đối với bị cáo đã có quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 298 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

. Vật chứng vụ án: Căn cứ các Điều 47, Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đ i, b sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm 01 nắp nhựa màu trắng, 01 tẩu thủy tinh, 01 ống hút là công cụ phương tiện phạm tội và ma túy còn lại sau giám định trong niêm phong số 976/KL-KTHS ngày 15/5/2023 của Công an tỉnh Đồng Nai là vật (chất) cấm lưu hành, tàng trữ phải tịch thu tiêu huỷ.

Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Oppo A9 2020; 01 điện thoại di động hiệu LG Wing; buộc Đặng Thế P nộp 50 000 đồng là tiền bán ma túy thu lợi do phạm tội mà có.

Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Vĩnh Cửu đã trả lại xe mô tô biển số 60N7-9781 đối với Thái Xuân H là đúng pháp luật.

. Về chi phí tố tụng: Các bị cáo là người bị kết án, m i bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm ngh n đồng) án phí hình sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/U TVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí Tòa án.

Luận tội của Kiểm sát viên phù hợp chứng cứ vụ án, quy định pháp luật. Hội đồng xét xử chấp nhận ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đ i, b sung năm 2017) đối với bị cáo P;

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đ i, b sung năm 2017) đối với bị cáo T;

Căn cứ Điều 47, Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đ i, b sung năm 2017); Điều 106, khoản 2 Điều 136, khoản 1 Điều 298 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí Tòa án.

Tuyên bố:

Bị cáo Đặng Thế P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Ôn Duy T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt:

Đặng Thế P 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tự nguyện hoặc áp giải thi hành án.

Ôn Duy T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 08 tháng 5 năm 2023.

- Về vật chứng:

Tịch thu, tiêu hủy: 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm 01 nắp nhựa màu trắng, 01 tẩu thủy tinh, 01 ống hút và ma túy còn lại sau giám định trong niêm phong số 976/KL-KTHS ngày 15/5/2023 của Công an tỉnh Đồng Nai.

Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Oppo A9 2020; 01 điện thoại di động hiệu LG Wing;

(theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/8/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai).

uộc Đặng Thế P phải nộp 50 000 đồng để nộp vào ngân sách Nhà nước.

- M i bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm ngh n đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

- Về trách nhiệm thi hành án dân sự:

Bản án được thi hành theo quy định tại các Điều 2, Điều 6, Điều 7, Điều 9, Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

- Các bị cáo có quyền kháng cáo Bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ