- Tranh chấp gì? án hình sự — "cho vay nặng lãi - phạm tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (điều 201 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Quang Đ, Nguyễn Mạnh H và Đỗ Văn M phạm tội "Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự ".
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 152/2022/HS-ST Ngày 28 - 9 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Thái Hoàng Đắc
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Cao Hồng Cẩm
Bà Nguyễn Thị Ngọc Điệp
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Xuân Thùy Dương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
- Đ diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Dương Phi Cát - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 141/2022/HSST ngày 14 tháng 9 năm 2022 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Quang Đ, sinh ngày 26/10/1986; tại Hà Nội; nơi cư trú: Thôn Tam Tứ, xã Liêm Cần, huyện Thanh Liêm, thành phố Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Qang Điện và bà Phạm Thị Việt; vợ: Đinh Thị Tuyết; con: 01 người sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không; bị khởi tố và cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 20/01/2022 cho đến nay; bị cáo tại ngoại có mặt.
2. Họ và tên: Nguyễn Mạnh H, sinh ngày 22/12/1998; tại Hà Nội; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn Dõng, xã Cổ Loa, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Làm nghề tự do; trình độ học vấn: 9/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tuấn Anh và bà Lê Thị Lẽ; vợ: Lê Thị Bé Ngoan; con: 01 người sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 16/10/2020 (bị bắt theo Quyết định truy nã), tạm giam ngày 22/10/2020 đến ngày 06/7/2021 cho bảo lãnh tại ngoại đến nay; bị cáo tại ngoại có mặt.
3. Họ và tên: Đỗ Văn M, sinh năm 1993; tại Hà Nội; nơi cư trú: Thôn Dục Tú, xã D, huyện Đ, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn Đ và bà Nguyễn Thị T; vợ: Hoàng Thùy D; con: 01 người sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 26/6/2012, bị Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội tuyên phạt 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Làm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Thời gian thử thách là 26 tháng 14 ngày kể từ ngày tuyên án. Đã chấp hành xong án phí ngày 31/10/2012; bị tạm giữ ngày 19/10/2020, tạm giam ngày 22/10/2020 đến ngày 06/7/2021 cho bảo lãnh tại ngoại cho đến nay; bị cáo tại ngoại có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Lý Tam T, sinh năm 1992; trú tại ấp 4, xã Khánh Thuận, huyện U M, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
2. Nguyễn Thị Hạ M, sinh năm 1988; trú tại số 179, đường Lý Văn Lâm, khóm 6, phường 1, TP.Cà Mau, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
3. Quách Văn T, sinh năm 1986; Trú tại đường số 12, khóm 4, phường 4, phường 1, TP.Cà Mau, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
4. Danh Văn M, sinh năm 1987; Trú tại khóm 1, phường 9, TP.Cà Mau, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
5. Lâm Quốc Đ, sinh năm 1975; Trú tại ấp 5, xã An Xuyên, TP.Cà Mau, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
6. Hà Tú E, sinh năm 1976; Trú tại ấp Tân Thuộc, xã An Xuyên, TP.Cà Mau, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
7. Phạm Ánh D, sinh năm 1997; Trú tại ấp Lung Dừa, xã Lý Văn Lâm, TP.Cà Mau, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
8. Nguyễn Thùy Q, sinh năm 1982; Trú tại ấp 6, xã An Xuyên, TP.Cà Mau, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
9. Trần Trung H, sinh năm 1997; Trú tại ấp 5, xã An Xuyên, TP.Cà Mau, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
10. Nguyễn Văn U, sinh năm 1997; Trú tại ấp Tân Dân, xã An Xuyên, TP.Cà Mau, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
11. Mạc Hải Đ, sinh năm 1993; Trú tại ấp Láng Cùng, xã Thạnh Phú, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
12. Nguyễn Quốc V, sinh năm 1973; Trú tại ấp Rau Dừa B, xã Hưng Mỹ huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
13. Lữ Kim T, sinh năm 1981; Trú tại ấp 3, xã Tân Lộc, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
14. Ngô Văn H, sinh năm 1983; Trú tại ấp Xóm Lớn, xã Lý Văn Lâm, TP.Cà Mau, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
15. Trần Thanh A, sinh năm 1992; Trú tại ấp Bùng Binh II, xã Hòa Tân, TP.Cà Mau, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
16. Lê Thanh Ph, sinh năm 1983; Trú tại ấp 5, xã Tân Thành, TP.Cà Mau, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
17. Trần Đô Nal, sinh năm 1992; Trú tại ấp 4, xã Tân Tiến, huyện U M, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
18. Lê Xuân V, sinh năm 1992; Trú tại ấp 3, xã Tân Lộc Đông, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
19. Giang Thị Kiều Tr, sinh năm 1988; Trú tại ấp Ba Mến A, xã Đông Trạch, huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu (vắng mặt).
20. Tô Giang Ngô M Ý, sinh năm 1971; Trú tại ấp Thành Thượng B, xã An Trạch An, huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu (vắng mặt).
21. Nguyễn Khánh Th, sinh năm 1993; Trú tại số 447/1, khóm 5, phường 6, TP.Cà Mau, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
22. Nguyễn Phương A, sinh năm 1990; Trú tại ấp Sở Tại, xã Thạnh Phú, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
23. Lý Hồng Th, sinh năm 1969; Trú tại khóm 2, phường Hộ Phòng, thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Công ty TNHH MTV NT Cà Mau (gọi tắt là Công ty Ngân Tín Cà Mau), trụ sở chính tại số 377, đường Lý Thường Kiệt, khóm 5, phường 6, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau do Nguyễn Quang Gi, sinh năm 1984, trú Xóm Hậu, xã Uy Nỗ, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội làm Giám đốc. Nguyễn Quang Đ làm quản lý. Nguyễn Mạnh H, Đỗ Văn M được thuê làm nhân viên theo nhiệm vụ được phân công và hưởng lương mỗi tháng 6.000.000 đồng. Công ty được Sở Kế hoạch Đầu tư tỉnh Cà Mau cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty TNHH MTV, cấp mã số doanh nghiệp và đăng ký lần đầu ngày 06/3/2019. Đến ngày 20/3/2020, bị tố giác về hành vi cho vay lãi nặng.
Công ty đăng ký ngành nghề kinh doanh với 15 loại hình, trong đó có ngành, nghề "Cho thuê xe có động cơ". Theo quy định tại Phụ lục II kèm theo Quyết định số 27/2018/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ quy định, mã ngành 7710 bao gồm: "Cho thuê xe chở khách không có lái xe, cho thuê xe tải, xe bán rơmooc". Công ty không đăng ký kinh doanh đối với ngành nghề "Cho thuê xe mô tô" (mã ngành 77309). Đồng thời, các hợp đồng mua bán, cho thuê xe tại Công ty không thực hiện việc công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật.
Phương thức hoạt động của Công ty Ngân Tín Cà Mau: Khi người có nhu cầu vay tiền liên hệ và đến gặp trực tiếp thỏa thuận với nhân viên tại trụ sở Công ty. Số tiền Công ty cho vay sẽ căn cứ vào tài sản (chủ yếu là xe mô tô) mà người vay dùng để thế chấp. Tuy nhiên, người vay tiền và Công ty không ký kết bằng hợp đồng vay tài sản mà Công ty quy định người muốn vay tiền buộc phải ký hợp đồng bán tài sản (xe mô tô) cho Công ty nhưng không công chứng, chứng thực, kèm theo Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô và Chứng M nhân dân bản gốc hoặc phô tô có công chứng. Sau đó, người vay phải ký kết với Công ty thêm một hợp đồng thuê lại tài sản và phí cho thuê tính theo ngày. Thực chất, số tiền mua bán xe trên hợp đồng là số tiền mà Công ty cho người vay tiền. Đồng thời tiền phí thể hiện trên hợp đồng cho thuê xe chính là tiền lãi trên số tiền vay mà người vay phải trả theo ngày. Khi nhận tiền vay tại Công ty, người vay phải đóng lãi suất trước 10 ngày (kỳ đầu) và được trừ trực tiếp vào số tiền vay, người vay phải đóng lãi theo kỳ 10 ngày/lần tại Công ty hoặc chuyển khoản vào số tài khoản ngân hàng do Công ty cung cấp. Để nhắc người vay trả tiền, Công ty gửi Phiếu nhắc lịch thanh toán có tên và số điện thoại của Công ty để gửi đến cho người vay. Khi người vay trả đủ số tiền vay, Công ty xé bỏ hợp đồng bán xe và hợp đồng thuê xe, người vay nhận lại tài sản. Nếu người vay không trả hoặc trả lãi không đúng hạn, Công ty cử H, M đi tìm, nhắn tin, gọi điện đe dọa người vay hoặc thu hồi xe của người vay.
Tại Công ty, Nguyễn Mạnh H có vai trò tư vấn, làm hồ sơ (hợp đồng), giao tiền cho khách và thu hồi nợ. Khi hoàn thành các thủ tục vay, H báo cáo cho Nguyễn Quang Đ (quản lý của Công ty) về số tiền vay để Đ quyết định. Đỗ Văn M có trách nhiệm kiểm tra tình trạng xe, nhắc nợ, đe dọa và thu hồi xe nếu khách hàng không đóng tiền lãi và gốc. H và M lén gắn định vị GPS vào xe của khách hàng và quản lý bằng điện thoại di động nhằm phục vụ cho việc thu hồi nợ và tìm vị trí xe để lấy xe nếu khách hàng không trả lãi hoặc bỏ trốn.
Ngày 23/3/2020, Cơ quan chức năng kiểm tra nơi ở của các đối tượng tại phòng trọ phường 6, thành phố Cà Mau, thu giữ:
- 54 (Năm mươi bốn) bộ hồ sơ gồm "Hợp đồng cho thuê ô tô, xe máy tự lái" và "Hợp đồng mua bán xe"; 09 (chín) Giấy Chứng M nhân dân và 01 (một) Giấy phép lái xe; 02 (hai) quyển sổ; 01 (một) ổ cứng máy tính; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6 Plus Gold, IMEI 3543 79062615471, gắn sim số 0967.581.131 của Nguyễn Mạnh H; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu đồng, IMEI 3543 89064900862, gắn sim số 0986141093 của Đỗ Văn M;
- 01 (một) con dấu khắc chữ "GIÁM ĐỐC"; 03 (ba) cuốn hóa đơn thanh toán tiền thuê xe; 03 (ba) cuốn hóa đơn Giấy mua bán xe; 620 card visit quảng cáo "Tư vấn cho vay"; 990 băng rôn quảng cáo (kích thước 50cm x 70cm) "Hỗ trợ vay vốn bằng cà vẹt, số điện thoại 0907926986"; 03 (ba) bao chứa nhiều thanh tre, kích thước 50cm x 03cm x 01cm; 03 (ba) Giấy vay tiền tên Phạm Mạnh Cường, Phạm Thị Tuyết Hạnh, Đoàn Ngọc Giàu; 10 (mười) tờ thông báo tìm người; 03 (ba) tờ giấy ủy quyền; 53 biểu mẫu hợp đồng mua bán xe mô tô, giấy thông báo; Đơn tố cáo; 08 (tám) phiếu yêu cầu công chứng; 02 (hai) Hợp đồng thuê nhà; 01 (một) ba lô màu đen có chữ "Part of life SIMPLE CARRY"; 01 (một) tập tài liệu liên quan đến hoạt động của Công ty TNHH Thành Phát; 01 (một) cuốn sổ màu đen, bìa có chữ MILO, bên trong có ghi hoạt động thu chi tiền ;
- 01 (một) thẻ ATM của Ngân hàng BIDV số 9704180106188410 tên Nguyen Quang Dai; 01 (một) thẻ ATM của Ngân hàng BIDV số 9704180098734601 tên Nguyen Manh Hung;
- 01 (một) CPU máy tính để bàn không nhãn hiệu (đã qua sử dụng); 01 (một) màn hình máy tính để bàn hiệu DELL (đã qua sử dụng); 12 (mười hai) thiết bị Smart Motor;
- 01 (một) cuốn sổ bìa màu xanh có in chữ "CÔNG TY TNHH MTV NT CÀ MAU – HOTLINE: 0915.959.395, "PHIẾU NHẮC LỊCH THANH TOÁN TIỀN THUÊ XE".
Cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra 03 cuốn sổ bị tạm giữ, kết quả thể hiện có ghi nội dung liên quan đến việc cho vay. Đỗ Văn M khai nhận 03 cuốn tập trên là ghi nhận hoạt động cho vay của Công ty Thành Phát để lại, không nắm rõ được nội dung.
Ngày 24/3/2021, Cơ quan điều tra Công an tỉnh Cà Mau tiến hành kiểm tra ổ cứng máy tính đã thu giữ với sự chứng kiến của Đỗ Văn M, qua kiểm tra thể hiện có lưu trữ 15 (Mười lăm) file Worl, trong đó 01 file là quy trình giao tiếp và tư vấn khách hàng, còn 14 file còn lại là Hợp đồng mua bán xe và Hợp đồng thuê ô tô, xe máy tự lái giữa Công ty Ngân Tín Cà Mau với người vay tiền.
Riêng đối với 01 (Một) CPU máy tính để bàn không nhãn hiệu (đã qua sử dụng) do Nguyễn Mạnh H giao nộp, Cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra thể hiện CPU đã bị hư hỏng, không thể phục hồi dữ liệu.
Theo Kết luận giám định số 223/GĐ-PC09 ngày 08/12/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau kết luận:
- Không đủ cơ sở kết luận chữ ký trên 06 "Hợp đồng mua bán xe mô tô", 04 "Hợp đồng thuê xe ô tô, xe máy – tự lái" - tài liệu cần giám định (Ký hiệu từ A1 đến A10; A12) so với chữ ký, phía dưới chữ ký họ tên Nguyễn Quang Gi trên tài liệu mẫu so sánh (Ký hiệu từ M1 – M3) có phải do cùng một người ký ra hay không.
- Chữ viết trên 05 "Hợp đồng thuê xe ô tô, xe máy – tự lái" – tài liệu cần giám định (Ký hiệu từ A7 đến A11) so với chữ viết của Nguyễn Quang Gi trên mẫu tài liệu so sánh (Ký hiệu M3) là không phải do cùng một người viết ra.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra xác định được có 33 hồ sơ do Công ty Ngân Tín Cà Mau cho vay, trong đó có 23 hồ sơ Cơ quan điều tra đã làm việc được với người vay tiền. Từ tháng 5/2019 đến tháng 3/2020, Công ty Ngân tín Cà Mau đã cho 23 người vay tiền với lãi suất từ 144%/năm đến 540%/năm. Trong khi, lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay (không vượt quá 100%/năm; 8,33%/tháng; 0,28%/ngày). Nguyễn Mạnh H và Đỗ Văn M giữ vai trò hỗ trợ, giúp sức cho Nguyễn Quang Đ trong việc thực hiện thủ tục cho vay và thu hồi nợ. Tổng số tiền đã cho vay là 332.000.000 đồng, số tiền lãi đã thu của người vay là 94.880.000 đồng. Trong đó, tiền lãi theo quy định của pháp luật là 10.339.727 đồng, thu lợi bất chính với tổng số tiền 84.540.273 đồng, cụ thể như sau:
1. Lý Tam T trú tại ấp 4, xã Khánh Thuận, huyện U M, tỉnh Cà Mau. Ngày 13/8/2019, anh Tỉnh đến Công ty Ngân Tín Cà Mau gặp Nguyễn Mạnh H ký Hợp đồng mua bán xe mô tô hiệu SH125I biển số 69H1-287.49 do anh Tỉnh đứng tên sở hữu để vay số tiền 50.000.000 đồng. Sau đó, anh Tỉnh phải ký tiếp hợp đồng thuê lại xe của anh Tỉnh tiền phí 250.000 đồng/ngày. Thực tế Công ty cho anh Tỉnh vay với số tiền 50.000.000 đồng, lãi suất 250.000 đồng/ngày (lãi 5.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày). Công ty buộc anh Tỉnh phải đóng trước kỳ đầu (10 ngày) với số tiền 2.500.000 đồng (trừ vào số tiền vay). Các kỳ sau đó thì anh Tỉnh có đóng nhưng không nhớ rõ thời gian, số tiền cho đến khi không còn khả năng đóng lãi cho Công ty. Anh Tỉnh bị H đe dọa nên trình báo Công an huyện U M và giao nộp 01 (Một) điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh đen (đã qua sử dụng) có liên quan đến việc H đòi tiền lãi và bị đe dọa. Quá trình điều tra, chứng M anh Tỉnh đã nộp lãi cho Công ty Ngân Tín Cà Mau tổng số tiền 8.700.000 đồng, trong khi lãi suất tiền vay theo quy định là 953.425 đồng. Công ty Ngân Tín Cà Mau thu lợi bất chính 7.746.575 đồng.
2. Nguyễn Thị Hạ M trú tại số 179, đường Lý Văn Lâm, khóm 6, phường 1, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau. Ngày 20/8/2019, chị Mai vay của Công ty Ngân Tín Cà Mau số tiền 20.000.000 đồng, lãi suất 100.000 đồng/ngày (0,5%/ngày) nhận tiền vay trực tiếp của H, thông qua Hợp đồng mua bán xe và Hợp đồng cho thuê xe mô tô Janus 69B1-310.76 do chị Mai đứng tên sở hữu. Chị Mai khai đóng lãi đầy đủ cho Công ty tới ngày 04/3/2021 nhưng không có tài liệu chứng M. Theo hợp đồng và nguyên tắc thu tiền lãi của Công ty, chị Mai đã đóng lãi kỳ đầu (10 ngày) 1.000.000 đồng (chị Mai nhận 19.000.000 đồng), tiền lãi theo quy định 109.589 đồng. Công ty đã thu lợi bất chính 890.411 đồng.
3. Quách Văn T trú tại đường số 12, khóm 4, phường 4, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau. Ngày 01/3/2020, anh Tới vay của Công ty Ngân Tín Cà Mau số tiền 6.000.000 đồng, lãi suất 30.000 đồng/ngày. Thông qua Nguyễn Mạnh H, ký hợp đồng mua bán xe và hợp đồng thuê xe mô tô Wave Alpha 69C1-122.71 do anh Tới đứng tên sở hữu. Theo đó, tiền lãi Công ty đã nhận của anh Tới trong kỳ đầu (10 ngày) là 300.000 đồng, Số tiền lãi theo luật định 32.877 đồng. Công ty thu lợi bất chính 267.123 đồng.
4. Danh Văn M trú tại khóm 1, phường 9, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau. Ngày 22/3/2020, thông qua Hợp đồng mua bán xe và Hợp đồng thuê xe mô tô Wave Alpha 69B1-081.91 do anh M đứng tên sở hữu, Công ty đã cho anh M vay 7.000.000 đồng, lãi suất 39.000 đồng/ngày (0,56%/ngày). Anh M xác định Đỗ Văn M là người trực tiếp đưa hồ sơ và đưa tiền vay. Theo quy định, anh M đã đóng được kỳ đầu (10 ngày). Công ty thực nhận tiền lãi của anh M 390.000 đồng, trong khi lãi suất hợp pháp theo luật định là 38.356 đồng. Công ty đã thu lợi bất chính là 351.644 đồng.
5. Lâm Quốc Đ trú tại ấp 5, xã An Xuyên, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau. Ngày 17/10/2019, anh Đoàn gặp H tại Công ty, thông qua hình thức Hợp đồng mua bán xe và Hợp đồng thuê xe mô tô Sirius 69C1-329.82 do anh Đoàn đứng tên sở hữu để vay số tiền 5.000.000 đồng, lãi suất 27.500 đồng/ngày (0,55%/ngày). Công ty đã thu của anh Đoàn tiền lãi kỳ đầu (10 ngày) là 275.000 đồng, trong khi tiền lãi theo luật định là 27.397 đồng. Công ty thu lợi bất chính là 247.603 đồng.
6. Hà Tú E trú ấp Tân Thuộc, xã An Xuyên, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau. Ngày 15/02/2020, thông qua Hợp đồng mua bán xe và Hợp đồng thuê xe mô tô Wave RSX 69B1-097.96 do Tú Em đứng tên đã vay của Công ty Ngân Tín Cà Mau 7.000.000 đồng, lãi suất 39.000 đồng/ngày (0,56%/ngày). H trực tiếp đưa tiền vay và nhận tiền lãi tại Công ty. Số tiền lãi Công ty đã thu của Tú Em trong 03 kỳ (30 ngày) là 1.170.000 đồng, lãi suất theo quy định là 115.068 đồng. Công ty thu lợi bất chính là 1.054.932 đồng.
7. Phạm Ánh D trú tại ấp Lung Dừa, xã Lý Văn Lâm, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau. Khoảng tháng 8/2019, thông qua Hợp đồng mua bán xe và Hợp đồng thuê xe mô tô Wave 69B1-086.30 do Dương đứng tên, Dương vay của Công ty Ngân Tín Cà Mau 8.000.000 đồng, lãi 40.000 đồng/ngày. Dương đã đóng lãi kỳ đầu (10 ngày) là 400.000 đồng, lãi thực tế theo luật định 43.836 đồng, Công ty thu lợi bất chính là 356.164 đồng.
8. Nguyễn Thùy Q trú tại ấp 6, xã An Xuyên, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau. Ngày 25/12/2019, chị Quyên gặp H tại Công ty để vay tiền. Thông qua Hợp đồng mua bán xe và Hợp đồng cho thuê xe mô tô 69B1-159.62, H cho chị Quyên vay 15.000.000 đồng, lãi 83.000 đồng/ngày. Công ty đã thu tiền lãi kỳ đầu (10 ngày) là 830.000 đồng, lãi suất theo luật định là 82.192 đồng, tiền lãi Công ty thu lợi bất chính 747.808 đồng.
9. Trần Trung H trú tại khóm 1, phường 6, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau. Thời gian từ ngày 08/6/2019 đến ngày 08/9/2019, thông qua Hợp đồng mua bán xe và cho thuê xe mô tô Sirius 69B1-393.97 do Hậu đứng tên sở hữu, Công ty cho Hậu vay tổng số tiền 12.000.000 đồng, lãi 60.000 đồng/ngày (0,5%/ngày), Công ty đã thu tiền lãi của Hậu kỳ đầu (10 ngày) là 600.000 đồng, tiền lãi theo quy định 65.753 đồng, tiền lãi thu lợi bất chính là 534.247 đồng.
10. Nguyễn Văn U trú tại ấp Tân Dân, xã An Xuyên, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau. Ngày 23/9/2019, anh Út gặp Nguyễn Mạnh H tại Công ty, thông qua Hợp đồng thuê xe và Hợp đồng mua bán xe mô tô Airblade 69B1-260.06 do anh Út làm chủ sở hữu để vay 20.000.000 đồng, lãi 110.000 đồng/ngày (0,55%/ngày). Công ty đã thu tiền lãi của anh Út kỳ đầu (10 ngày) là 1.100.000 đồng, trong khi lãi tối đa theo luật định 109.589 đồng. Công ty thu lợi bất chính 990.411 đồng.
11. Mạc Hải Đ trú tại ấp Láng Cùng, xã Thạnh Phú, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau. Ngày 14/02/2020, thông qua Hợp đồng mua bán xe và Hợp đồng cho thuê xe mô tô 69E1-104.32 do anh Đăng đứng tên sở hữu, anh Đăng vay của Công ty 5.000.000 đồng, lãi 27.500 đồng/ngày (0,55%/ngày). Theo phiếu nhắc lịch thanh toán, Công ty đã thu của Đăng 03 kỳ (30 ngày) tổng số tiền 825.000 đồng, trong khi tiền lãi theo quy định 82.192 đồng. Công ty thu lợi bất chính 742.808 đồng.
12. Nguyễn Quốc V trú tại ấp Rau Dừa B, xã Hưng Mỹ, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau. Ngày 01/7/2019, Công ty cho anh Văn vay 7.000.000 đồng, lãi 35.000 đồng/ngày (0,5%). Công ty đã thu lãi của Văn được 01 kỳ (10 ngày) là 350.000 đồng, lãi suất tối đa theo quy định là 38.356 đồng, tiền lãi thu lợi bất chính là 311.644 đồng.
13. Lữ Kim T trú tại ấp 3, xã Tân Lộc, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau. Từ ngày 10/5/2019 đến ngày 14/3/2020, thông qua Hợp đồng mua bán xe và Hợp đồng cho thuê xe mô tô SH150I 69D1-190.39 và Wave Alpha 69D1-142.36 do Út đứng tên sở hữu, Công ty cho Út vay 03 lần tổng số tiền 60.000.000 đồng, lãi 300.000 đồng/ngày (0,5%/ngày). Công ty đã thu tiền lãi của Út 72.850.000 đồng, lãi suất theo luật định là 7.983.562 đồng, tiền lãi thu lợi bất chính là 64.866.438 đồng, cụ thể:
- Lần thứ nhất, Công ty cho Út vay 40.000.000 đồng, lãi 200.000 đồng/ngày. Công ty đã thu tiền lãi của Út từ ngày 10/5/2019 đến ngày 14/3/2019 (309 ngày) tổng số tiền 61.800.000 đồng, lãi suất theo quy định 6.772.063 đồng, tiền lãi thu lợi bất chính là 55.027.397 đồng.
- Lần thứ hai, Công ty cho Út vay 10.000.000 đồng, lãi 50.000 đồng/ngày, Công ty đã thu tiền lãi của Út từ ngày 12/6/2019 – 01/7/2019 (19 ngày) với tổng số tiền là 950.000đ, trong khi lãi suất tối đa theo quy định là 104.110đ, tiền lãi thu lợi bất chính là 845.890 đồng.
- Lần thứ ba, Công ty cho Út vay số tiền 10.000.000 đồng, lãi suất 50.000 đồng/ngày, Công ty đã thu tiền lãi của Út từ ngày 22/7/2019 – 09/02/2020 (202 ngày) với tổng số tiền 10.100.000 đồng, trong khi lãi suất theo quy định 1.106.849 đồng, tiền lãi thu lợi bất chính là 8.993.151 đồng.
14. Ngô Văn H trú tại ấp Xóm Lớn, xã Lý Văn Lâm, thành phố Cà Mau. Ngày 20/3/2020, thông qua Hợp đồng mua bán xe và Hợp đồng thuê xe, Công ty đã cho anh Hiền vay 15.000.000 đồng, lãi 75.000đồng/ngày (0,5%/ngày). Công ty đã thu tiền lãi của Hiền được 01 kỳ (10 ngày) với số tiền 750.000 đồng, lãi suất theo luật định là 82.192 đồng. Tiền lãi thu lợi thu bất chính là 667.808 đồng.
15. Trần Thanh A trú tại ấp Bùng Binh 2, xã Hòa Tân, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau. Ngày 20/3/2020, thông qua Hợp đồng mua bán xe và Hợp đồng cho thê xe mô tô Exciter 69B1-362.57 do anh Ân đứng tên sở hữu, Công ty Ngân Tín đã cho Ân vay số tiền 5.000.000 đồng, lãi suất 28.000 đồng/ngày (0,56%/ngày). Công ty đã thu lãi của Ân được 01 kỳ (10 ngày) là 280.000đồng (trừ vào tiền vay), lãi suất theo luật định 27.397 đồng, tiền lãi thu lợi bất chính 252.603 đồng.
16. Lê Thanh Ph trú tại ấp 5, xã Tân Thành, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau. Ngày 01/3/2020 anh Phương đến Công ty Ngân tín Cà Mau để vay số tiền 5.000.000 đồng, với lãi suất 28.000 đồng/ngày (10 ngày đóng 01 lần), thông qua Hợp đồng mua bán xe và Hợp đồng cho thuê xe mô tô Wave RSX biển số 69B1-100.94 do anh Phương đứng tên. Công ty đã thu của Phương được 03 lần (30 ngày) tổng số tiền 840.000 đồng, lãi suất theo quy định 82.192 đồng. Tiền lãi thu lợi bất chính là 757.808 đồng.
17. Trần Đô Nal trú tại ấp 4, xã Khánh Tiến, huyện U M, tỉnh Cà Mau. Ngày 13/6/2019, thông qua Hợp đồng mua bán xe mô tô và Hợp đồng thuê xe mô tô Airblad biển số 69H1-287.31, Công ty Ngân tín cho anh Nal vay 18.000.000 đồng, lãi 90.000 đồng/ngày (0,5%/năm). Công ty đã thu tiền lãi 01 kỳ (10 ngày) với số tiền là 900.000 đồng, lãi suất theo luật định là 98.630 đồng. Tiền lãi thu lợi bất chính là 801.370 đồng.
18. Lê Xuân V trú tại ấp 3, xã Tân Lộc Đông, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau. Ngày 14/01/2020, tại Công ty Ngân Tín Cà Mau, thông qua Hợp đồng mua bán xe mô tô và Hợp đồng thuê xe mô tô Exciter biển số 69D1-396.29 do anh Vủ đứng tên sở hữu, anh Vũ vay được 10.000.000 đồng, lãi suất 55.000 đồng/ngày (0,55%/ngày). Số tiền lãi Công ty thu được 01 kỳ (10 ngày) là 550.000 đồng, lãi suất theo quy định là 54.795 đồng, tiền lãi thu lợi bất chính là 495.205 đồng.
19. Giảng Thị Kiều Trang trú tại ấp Ba Mến A, xã An Trạch A, huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu. Ngày 02/7/2019, thông qua Hợp đồng mua bán xe mô tô và Hợp đồng cho thuê xe mô tô Vision biển số 94B1-350.70, Công ty Ngân Tín cho chị Trang vay 20.000.000 đồng, lãi suất 100.000 đồng/ngày (0,5%/ngày). Công ty đã thu lãi của chị Trang kỳ đầu (10 ngày) số tiền 1.000.000 đồng, trong khi lãi theo luật định 109.589 đồng. Tiền lãi Công ty thu lợi bất chính 890.411 đồng.
20. Tô Giang Ngô M Ý, trú tại ấp Thành Thưởng B, xã An Trạch A, huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu. Ngày 20/01/2020, chị Ý đến Công ty Ngân Tín Cà Mau vay tiền 12.000.000 đồng, lãi suất 60.000 đồng/ngày (0,5%/ngày), thông qua Hợp đồng mua bán xe mô tô và Hợp đồng cho thuê xe mô tô Wave RSX biển số 94B1-359.09. Chị ý đóng lãi cho Công ty kỳ đầu (10 ngày) là 600.000 đồng, trong khi lãi suất theo luật định là 65.753 đồng. Vậy, tiền lãi Công ty thu lợi bất chính là 534.247 đồng.
21. Nguyễn Khánh Th, trú tại số 447/1, khóm 5, phường 6, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau. Thông qua Hợp đồng mua bán xe mô tô và Hợp đồng cho thuê xe mô tô Galaxy (Sym) biển số 69C1-288.04 do anh Thuận đứng tên sở hữu, Công ty Ngân Tín Cà Mau cho anh Thuận vay số tiền 8.000.000 đồng, với lãi suất 32.000 đồng/ngày (0,4%/ngày). Công ty thu tiền lãi của anh Thuận lần 1 (10 ngày) vào ngày 18/3/2020 với số tiền 320.000 đồng, tiền lãi theo quy định là 43.836 đồng. Vậy, tiền lãi thu lợi bất chính là 276.164 đồng.
22. Nguyễn Phương A trú tại ấp Sở Tại, xã Thạnh Phú, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau. Ngày 24/7/2019, chị Phương Anh vay của Công ty Ngân Tín Cà Mau với số tiền 7.000.000 đồng, lãi 35.000 đồng/ngày (0,5%/ngày), thông qua Hợp đồng mua bán xe mô tô và Hợp đồng cho thuê xe mô tô Wave biển số 69E1-074.56 do chị Phương Anh đứng tên. Chị Phương Anh không xác định đã đóng cho Công ty được bao nhiêu lần. Theo phương thức thu lãi của Công ty kỳ đầu (10 ngày), trừ trực tiếp vào tiền cho vay) thì tiền lãi thu của chị Phương Anh là 350.000 đồng, lãi suất theo quy định là 38.356 đồng. Vậy, tiền lãi thu lợi bất chính là 311.644 đồng.
23. Lý Hồng Th trú tại khóm 2, phường Hộ Phòng, thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu. Ngày 02/8/2019, ông Thanh đến Công ty Ngân Tín Cà Mau để vay 10.000.000 đồng, lãi suất 50.000đ/ngày (0,5%/ngày). Công ty yêu cầu ông Thanh ký Hợp đồng mua bán xe mô tô và Hợp đồng cho thuê xe mô tô Wave RSX biển số 94D1-300.58 do Thanh đứng tên sở hữu. Ông Thanh đóng kỳ đầu (10 ngày/lần) do Nguyễn Mạnh H cho vay và thu tiền lãi. Ông Thanh xác định đã đóng lãi đến ngày 22/3/2020 nhưng không chứng cứ chứng M. Theo nguyên tắc thu lãi, Công ty đã thu của ông Thanh 500.000 đồng, trong khi lãi suất theo quy định là 54.795 đồng. Công ty thu lợi bất chính là 445.205 đồng.
Còn lại 10 (mười) hồ sơ liên quan đến hoạt động cho vay của Công ty Ngân Tín Cà Mau nhưng chưa làm việc được với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Theo hợp đồng giữa Công ty với những người có tên: Nguyễn Thị Như Thảo, Nguyễn Văn Thủ, Lê Kiều Nương, Danh Trường, Nguyễn Văn Hận, Trịnh Kim Vân, Nguyễn Văn Lợi, Trần Thanh Tùng, Lê Thùy Phương Anh và Mai Văn Bùi. Cơ quan điều tra xác định tổng số tiền thu lợi bất chính thể hiện trên các hợp đồng là 6.366.575 đồng.
Ngoài ra, quá trình điều tra thể hiện 22 hồ sơ liên quan đến Công ty TNHH Thành Phát. Tuy nhiên, Cơ quan điều tra chưa làm việc được với Đ diện Công ty này, chưa chứng M được mối liên hệ với Công ty Ngân Tín Cà Mau. 01 (một) hồ sơ không có chữ ký của các bên trong hợp đồng; 01 (một) hồ sơ do Công ty Ngân Tín Bạc Liêu cho vay nhưng không làm việc được với người vay.
Quá trình điều tra, Nguyễn Quang Đ, Nguyễn Mạnh H và Đỗ Văn M đã thừa nhận hành vi phạm tội. Trong đó, Nguyễn Quang Đ vai trò chủ mưu, cầm đầu. Nguyễn Mạnh H và Đỗ Văn M vai trò giúp sức cho Đ trong việc làm thủ tục cho vay và thu hồi nợ vay tại Công ty Ngân Tín Cà Mau. Riêng Đ và H phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đ và M đầu thú là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra gia đình các bị cáo H và M đã nộp 4.000.000 đồng (mỗi bị cáo 2.000.000 đồng) để khắc phục hậu quả.
Đối với Nguyễn Quang Gi khai chỉ đứng tên trên Giấy phép đăng ký kinh doanh và hoạt động kinh doanh của Công ty là mua bán và cho thuê xe. Thực tế giao lại cho Nguyễn Quang Đ quản lý và điều hành mọi hoạt động của Công ty. Giữa Công ty Ngân Tín Cà Mau và Công ty TNHH Thành Phát không có mối quan hệ gì với nhau. Không biết và cũng không chỉ đạo cho Đ cùng với H và M cho vay tiền. Các chữ ký ghi họ tên Nguyễn Quang Gi Đ diện bên Công ty Ngân Tín Cà Mau không phải do Giang ký ra.
Vật chứng thu giữ trong vụ án:
- 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone 6 Plus Gold, IMEI 3543 79062615471, gắn sim số 0967.581.131 là tài sản cá nhân của Nguyễn Mạnh H; 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone màu đồng, IMEI 3543 89064900862, gắn sim số 0986141093 là tài sản cá nhân của Đỗ Văn M là phương tiện mà các bị cáo đã sử dụng vào hoạt động cho vay lãi nặng.
- 01 (Một) điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh đen, Model TA-1174, số Seri 357733101304280 là tài sản cá nhân của anh Lý Tam T giao nộp để phục vụ cho công tác điều tra.
Cơ quan điều tra đã tiến hành trả lại Giấy chứng nhận đăng ký xe và Giấy chứng M nhân dân có liên quan trong vụ án cho Lý Hồng Th, Tô Giang Ngô M Ý, Nguyễn Thị Hạ M, Ngô Văn H, Trần Thanh A, Danh Văn M, Quách Văn T, Giảng Thị Kiều Trang, Nguyễn Thùy Q, Lữ Kim T, Lê Thanh Ph, Nguyễn Khánh Th, Hà Tú E, Nguyễn Quốc V và Mạc Hải Đ.
Các tài liệu, vật chứng còn lại đều có liên quan đến vụ án đã được Cơ quan điều tra niêm phong, nhập kho theo Quyết định nhập kho vật chứng số 94 ngày 30/7/2020. Các tài liệu có liên quan đã được phô tô lưu trữ vào hồ sơ vụ án.
Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Quang Đ, Nguyễn Mạnh H và Đỗ Văn M không yêu cầu gì đối với những người vay và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên cũng không yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự đối với Đ, H và M trong vụ án này. Ngày 10/12/2020, bà Nguyễn Thị Tình là mẹ của Đỗ Văn M và bà Nguyễn Thị Xây là nội của Nguyễn Mạnh H tự nguyện nộp khắc phục hậu quả cho M và H mỗi người là 2.000.000 đồng tại Cơ quan điều tra.
Tại bản cáo trạng số 68/CT-VKS ngày 05 tháng 5 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau truy tố Nguyễn Quang Đ, Nguyễn Mạnh H và Đỗ Văn M về tội "Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự " theo quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đ diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau giữ nguyên cáo trạng truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử :
- Áp dụng khoản 1 Điều 201; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang Đ từ 90.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.
- Áp dụng khoản 1 Điều 201; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh H từ 80.000.000 đồng đến 90.000.000 đồng
- Áp dụng khoản 1 Điều 201; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đỗ Văn M từ 70.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 468, Điều 122, 123, 131 Bộ luật Dân sự:
- Buộc các bị cáo phải nộp số tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự mà các bị cáo đã thu của người vay để sung quỹ nhà nước tổng số tiền là 10.339.727 đồng;
- Buộc các bị cáo phải nộp lại số tiền dùng vào việc phạm tội (tiền gốc dùng để cho vay, đã thu lại của anh Đoàn, anh Đăng, anh Vũ và bà Út) với tổng số tiền là 30.000.000 đồng.
- Buộc các bị cáo có trách nhiệm trả lại cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án số tiền thu lợi bất chính mà các bị cáo thực tế đã thu 84.540.273 đồng.
- Buộc những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án nộp lại số tiền gốc là tài sản mà các bị cáo đã dùng để cho vay (do chưa trả nợ gốc cho các bị cáo) với tổng số tiền là 302.000.000 đồng (trừ Lâm Quốc Đ, Mạc Hải Đ, Lê Xuân V và Lâm Thị Út).
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự ; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu sung vào công quỹ nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone 6 Plus Gold; 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone màu đồng; 01 ổ cứng máy tính; 01 ba lô màu đen; 01 CPU máy tính để bàn không nhãn hiệu (đã qua sử dụng); 01 màn hình máy tính để bàn hiệu Dell (đã qua sử dụng); 12 thiết bị Smart Motor.
- Tịch thu tiêu hủy: 03 (ba) cuốn sổ có ghi chữ liên quan đến việc cho vay tiền ; 01 (một) con dấu khắc chữ Giám đốc; 03 (ba) cuốn hóa đơn thanh toán tiền thuê xe; 03 (ba) cuốn hóa đơn Giấy mua bán xe; 620 (sáu trăm hai mươi) card visit quảng cáo "Tư vấn cho vay"; 990 (chín trăm chín mươi) băng rôn quảng cáo (kích thước 50cm x 70cm) "Hỗ trợ vay vốn bằng cà vẹt, số điện thoại 0907926986"; 03 (ba) bao chứa nhiều thanh tre, kích thước 50cm x 03cm x 01cm; 10 (mười) tờ thông báo tìm người chưa có họ tên; 03 (ba) tờ giấy ủy quyền; 01 (một) ba lô màu đen có chữ "Part of life SIMPLE CARRY"; 53 (năm mươi ba) biểu mẫu hợp đồng mua bán xe mô tô, giấy thông báo, đơn tố cáo chưa có họ tên; 08 (tám) phiếu yêu cầu công chứng chưa có họ tên; 01 (một) thẻ ATM của Ngân hàng BIDV số 9704180106188410 tên Nguyen Quang Dai; 01 (Một) thẻ ATM của Ngân hàng BIDV số 9704180098734601 tên Nguyen Manh Hung; 01 (một) cuốn sổ bìa màu xanh có in chữ "CÔNG TY TNHH MTV NT CÀ MAU – HOTLINE: 0915.959.395, "PHIẾU NHẮC LỊCH THANH TOÁN TIỀN THUÊ XE"
- Trả lại cho anh Lý Tam T 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh đen, Model TA-1174, số Seri 357733101304280.
- Tạm giữ số tiền 4.000.000 đồng các bị cáo H và M đã nộp để đảm bảo thi hành án.
Ý kiến của bị cáo: Các bị cáo Đ, H và M thừa nhận hành vi phạm tội, thống nhất với luận tội của Đ diện Viện kiểm sát, không tham gia tranh luận.
Các bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo H và M yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét giảm mức hình phạt tiền. Bị cáo Đ không nói lời sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Cà Mau, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Quang Đ, Nguyễn Mạnh H và Đỗ Văn M khai nhận: Thời gian từ tháng 10 năm 2019 đến tháng 3 năm 2020, Nguyễn Quang Đ với vai trò chủ mưu, chỉ đạo cho Nguyễn Mạnh H và Đỗ Văn M là nhân viên của Công ty Ngân Tín Cà Mau đã có hành vi cho 23 người vay với tổng số tiền 332.000.000 đồng, với lãi suất từ 144%/năm đến 540%/năm, đã thu tiền lãi của người vay là 94.880.000 đồng, trong khi tiền lãi theo quy định của pháp luật là 10.339.727 đồng, thu lợi bất chính với tổng số tiền 84.540.273 đồng.
Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Do đó, hành vi của các bị cáo Nguyễn Quang Đ, Nguyễn Mạnh H và Đỗ Văn M đã cấu thành tội "Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự" theo quy định tại khoản 1 Điều 201 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo Nguyễn Quang Đ, Nguyễn Mạnh H và Đỗ Văn M là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước, cụ thể là trật tự trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ. Hành vi cho vay lãi nặng cũng là nguyên nhân dẫn đến các hoạt động băng đảng, làm gia tăng các tội phạm khác như: Tội cố ý gây thương thương tích, tội cưỡng đoạt tài sản gây mất trật tự trị an ở địa phương. Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự là vi phạm pháp luật, nhưng vì lợi nhuận nên các bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Trong vụ án này, bị cáo Đ vai trò chủ mưu, cầm đầu chỉ đạo cho H và M thực hiện tội phạm. Các bị cáo H và M với vai trò giúp sức cho Nguyễn Quang Đ, không hưởng lợi từ việc cho vay, cũng như thu lợi bất chính. Trong đó bị cáo H với vai trò tư vấn, lập hồ sơ hợp đồng, giao tiền cho khách, đe dọa và thu hồi nợ. Bị cáo M có trách nhiệm kiểm tra tình trạng xe, gắn định vị GPS xe của khách, nhắc nợ và thu hồi xe. Ngoài ra, bị cáo M có thời gian làm việc tại Công ty Ngân tín Cà Mau ít hơn bị cáo H. Vì vậy, Hội đồng xét xử cân nhắc áp dụng mức hình phạt phù hợp, tương xứng với tính chất, mực độ phạm tội và vai trò của từng bị cáo. Riêng bị cáo M có nhân thân xấu, 26/6/2012, bị Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội tuyên phạt 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 26 tháng 14 ngày kể từ ngày tuyên án về tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản". Đã chấp hành xong hình phạt và án phí ngày 31/10/2012.
[4] Về tính tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Riêng các bị cáo Đ và H phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Gia đình bị cáo H có tham gia cách mạng (Bà nội của Nguyễn Mạnh H là bà Nguyễn Thị Xây - Tổ trưởng tổ phụ nữ ấp Thôn Dõng, xã Cổ Loa, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội) là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về biện pháp tư pháp:
[5.1] Về trách nhiệm dân sự: Đối với khoản tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20% mà những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trả cho Công ty Ngân tín Cà Mau với tổng số tiền là 10.339.727 đồng (Lý Tam T 953.425 đồng, chị Nguyễn Thị Hạ M 109.589 đồng, Quách Văn T 32.877 đồng, Danh Văn M 38.356 đồng, Lâm Quốc Đ 27.397 đồng, Hà Tú E 115.068 đồng, Phạm Ánh D 43.836 đồng, Nguyễn Thùy Q 82.192 đồng, Trần Trung H 65.753 đồng, Nguyễn Văn U 109.589 đồng, Mạc Hải Đ 82.192 đồng, Nguyễn Quốc V 38.356 đồng, Lữ Kim T 7.983.562 đồng, Ngô Văn H 82.192 đồng, Trần Thanh A 27.397 đồng, Lê Thanh Ph 82.192 đồng, Trần Đô Nal 98.630 đồng, Lê Xuân V 54.795 đồng, Giảng Thị Kiều Trang 109.589 đồng, Tô Giang Ngô M Ý 65.753 đồng, Nguyễn Khánh Th 43.836 đồng, Nguyễn Phương A 38.356 đồng và Lý Hồng Th 54.795 đồng). Đây là khoản tiền phát sinh từ tội phạm, nên buộc các bị cáo Đ, H và M liên đới nộp lại số tiền này để nộp vào ngân sách Nhà nước.
[5.2] Khoản tiền lãi 84.540.273 đồng tương ứng với mức lãi suất trên 20% là khoản tiền mà các bị cáo thu lợi bất chính của những người vay tiền nên buộc các bị cáo trả lại cho họ. Cụ thể: Trả cho Lý Tam T 7.746.575 đồng, trả cho Nguyễn Thị Hạ M 890.411 đồng, trả cho Quách Văn T 267.123 đồng, trả cho Danh Văn M 351.644 đồng, trả cho Lâm Quốc Đ 247.603 đồng, trả cho Hà Tú E 1.054.932 đồng, trả cho Phạm Ánh D 356.164 đồng, trả cho Nguyễn Thùy Q 747.808 đồng, trả cho Trần Trung H 534.247 đồng, trả cho Nguyễn Văn U 990.411 đồng, trả cho Mạc Hải Đ 742.808 đồng, trả cho Nguyễn Quốc V 311.644 đồng, trả cho Lữ Kim T 64.866.438 đồng, trả cho Ngô Văn H 667.808 đồng, trả cho Trần Thanh A 252.603 đồng, trả cho Lê Thanh Ph 757.808 đồng, trả cho Trần Đô Nal 801.370 đồng, trả cho Lê Xuân V 495.205 đồng, trả cho Giảng Thị Kiều Trang 890.411 đồng, trả cho Tô Giang Ngô M Ý 534.247 đồng, trả cho Nguyễn Khánh Th 276.164 đồng, trả cho Nguyễn Phương A 311.644 đồng và trả cho Lý Hồng Th 445.205 đồng.
[5.3] Đối với khoản tiền cho vay gốc tổng cộng 302.000.000 đồng được xác định là phương tiện phạm tội nên tịch thu sung quỹ Nhà nước. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo xác định người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là Lâm Quốc Đ đã trả 5.000.000 đồng, Mạc Hải Đ đã trả 5.000.000 đồng, Lê Xuân V đã trả 10.000.000 đồng và Lữ Kim T đã trả 10.000.000 đồng, tổng cộng 30.000.000 đồng cho Công ty Ngân tín Cà Mau. Những người còn lại không chứng M đã trả nợ gốc cho Công ty Ngân tín Cà Mau là bao nhiêu. Do đó cần buộc những người này nộp lại số tiền gốc để sung quỹ Nhà nước, cụ thể: Buộc Lý Tam T nộp lại số tiền 50.000.000 đồng, buộc Nguyễn Thị Hạ M nộp lại số tiền 20.000.000 đồng, buộc Quách Văn T nộp lại số tiền 6.000.000 đồng, buộc Danh Văn M nộp lại số tiền 7.000.000 đồng, buộc Hà Tú E nộp lại số tiền 7.000.000 đồng, buộc Phạm Ánh D nộp lại số tiền 8.000.000 đồng, buộc Nguyễn Thùy Q nộp lại số tiền 15.000.000 đồng, buộc Trần Trung H nộp lại số tiền 12.000.000 đồng, buộc Nguyễn Văn U nộp lại số tiền 20.000.000 đồng, buộc Nguyễn Quốc V nộp lại số tiền 7.000.000 đồng, buộc Lữ Kim T nộp lại số tiền 50.000.000 đồng, buộc Ngô Văn H nộp lại số tiền 15.000.000 đồng, buộc Trần Thanh A nộp lại số tiền 5.000.000 đồng, buộc Lê Thanh Ph nộp lại số tiền 5.000.000 đồng, buộc Trần Đô Nal nộp lại số tiền 18.000.000 đồng, buộc Giảng Thị Kiều Trang nộp lại số tiền 20.000.000 đồng, buộc Tô Giang Ngô M Ý nộp lại số tiền 12.000.000 đồng, buộc Nguyễn Khánh Th nộp lại số tiền 8.000.000 đồng, buộc Nguyễn Phương A nộp lại số tiền 7.000.000 đồng và buộc Lý Hồng Th nộp lại số tiền 10.000.000 đồng.
[5.4] Buộc các bị cáo Nguyễn Quang Đ, Nguyễn Mạnh H và Đỗ Văn M liên đới nộp lại số tiền 30.000.000 đồng (tiền vay gốc của Lâm Quốc Đ 5.000.000 đồng, Mạc Hải Đ 5.000.000 đồng, Lê Xuân V 10.000.000 đồng và Lữ Kim T 10.000.000 đồng đã trả lại cho Công ty Ngân tín Cà Mau) để sung vào công quỹ Nhà nước.
[5.5] Về xử lý vật chứng: Trả lại cho anh Lý Tam T 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh đen, Model TA-1174, số Seri 357733101304280.
[5.6] Tịch thu tiêu hủy: 03 (ba) cuốn sổ có ghi chữ số liên quan đến việc cho vay tiền; 01 (một) con dấu khắc chữ Giám đốc; 03 (ba) cuốn hóa đơn thanh toán tiền thuê xe; 03 (ba) cuốn hóa đơn Giấy mua bán xe; 620 (sáu trăm hai mươi) card visit quảng cáo "Tư vấn cho vay"; 990 (chín trăm chín mươi) băng rôn quảng cáo (kích thước 50cm x 70cm) "Hỗ trợ vay vốn bằng cà vẹt, số điện thoại 0907926986"; 03 (ba) bao chứa nhiều thanh tre, kích thước 50cm x 03cm x 01cm; 10 (mười) tờ thông báo tìm người; 03 (ba) tờ giấy ủy quyền; 53 (năm mươi ba) biểu mẫu hợp đồng mua bán xe mô tô, giấy thông báo, đơn tố cáo; 08 (tám) phiếu yêu cầu công chứng; 01 (một) ba lô màu đen có chữ "Part of life SIMPLE CARRY";01 (một) thẻ ATM của Ngân hàng BIDV số 9704180106188410 tên Nguyen Quang Dai; 01 (Một) thẻ ATM của Ngân hàng BIDV số 9704180098734601 tên Nguyen Manh Hung; 01 (một) cuốn sổ bìa màu xanh có in chữ "CÔNG TY TNHH MTV NT CÀ MAU – HOTLINE: 0915.959.395, "PHIẾU NHẮC LỊCH THANH TOÁN TIỀN THUÊ XE".
[5.7] Tịch thu sung vào công quỹ nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6 Plus Gold, IMEI 3543 79062615471, gắn sim số 0967.581.131 của Nguyễn Mạnh H và 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu đồng, IMEI 3543 89064900862, gắn sim số 0986141093 của Đỗ Văn M là phương tiện mà các bị cáo đã sử dụng vào việc phạm tội; 01 (một) CPU máy tính để bàn không nhãn hiệu đã qua sử dụng; 01 (một) màn hình máy tính để bàn hiệu DELL đã qua sử dụng; 12 (mười hai) thiết bị Smart Motor; 01 (Một) ổ cứng máy tính.
[5.9] Đối với số tiền 4.000.000 đồng gia đình các bị cáo đã nộp, giao cho Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cà Mau tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
[6] Đối với Nguyễn Quang Gi, qua điều tra Giang không biết Nguyễn Mạnh H và Đỗ Văn M cùng với Nguyễn Quang Đ thực hiện hành vi cho vay lãi nặng tại Công ty Ngân Tín Cà Mau nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ.
[7] Đối với 22 hồ sơ liên quan đến Công ty TNHH Thành Phát và 10 hồ sơ liên quan đến hoạt động cho vay của Công ty Ngân Tín Cà Mau, do chưa làm việc được với người vay nên chưa đủ căn cứ để xác định số tiền Nguyễn Mạnh H cùng đồng phạm đã chiếm đoạt. Do đó, giao Cơ quan điều tra tiếp tục xác M, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.
[8] Về án phí hình sự sơ thẩm, các bị cáo phải chịu theo luật định,
Vì những lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 201; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 35 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Quang Đ;
Căn cứ khoản 1 Điều 201; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 35 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Mạnh H;
Căn cứ khoản 1 Điều 201; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 35 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đỗ Văn M.
Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Quang Đ, Nguyễn Mạnh H và Đỗ Văn M phạm tội "Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự ".
1. Về hình phạt:
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang Đ 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng).
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh H 80.000.000 đồng (tám mươi triệu đồng).
- Xử phạt bị cáo Đỗ Văn M 70.000.000 đồng (bảy mươi triệu đồng).
2. Về biện pháp tư pháp: Căn cứ các Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 468, Điều 122, 123, 131 Bộ luật Dân sự
2.1 Về trách nhiệm dân sự:
- Buộc các bị cáo Nguyễn Quang Đ, Nguyễn Mạnh H và Đỗ Văn M liên đới nộp lại số tiền 40.339.727 đồng, trong đó 10.339.727 đồng các bị cáo thu của người vay và 30.000.000 đồng tiền gốc dùng để cho vay đã thu lại của anh Lâm Quốc Đ, anh Mạc Hải Đ, anh Lê Xuân V và bà Lâm Thị Út để nộp vào ngân sách Nhà nước.
- Buộc các bị cáo Nguyễn Quang Đ, Nguyễn Mạnh H và Đỗ Văn M liên đới trả cho: Lý Tam T 7.746.575 đồng, Nguyễn Thị Hạ M 890.411 đồng, Quách Văn T 267.123 đồng, Danh Văn M 351.644 đồng, Lâm Quốc Đ 247.603 đồng, Hà Tú E 1.054.932 đồng, Phạm Ánh D 356.164 đồng, Nguyễn Thùy Q 747.808 đồng, Trần Trung H 534.247 đồng, Nguyễn Văn U 990.411 đồng, Mạc Hải Đ 742.808 đồng, Nguyễn Quốc V 311.644 đồng, Lữ Kim T 64.866.438 đồng, Ngô Văn H 667.808 đồng, Trần Thanh A 252.603 đồng, Lê Thanh Ph 757.808 đồng, Trần Đô Nal 801.370 đồng, Lê Xuân V 495.205 đồng, Giảng Thị Kiều Trang 890.411 đồng, Tô Giang Ngô M Ý 534.247 đồng, Nguyễn Khánh Th 276.164 đồng, Nguyễn Phương A 311.644 đồng và Lý Hồng Th 445.205 đồng.
- Buộc Lý Tam T nộp lại số tiền 50.000.000 đồng, buộc Nguyễn Thị Hạ M nộp lại số tiền 20.000.000 đồng, buộc Quách Văn T nộp lại số tiền 6.000.000 đồng, buộc Danh Văn M nộp lại số tiền 7.000.000 đồng, buộc Hà Tú E nộp lại số tiền 7.000.000 đồng, buộc Phạm Ánh D nộp lại số tiền 8.000.000 đồng, buộc Nguyễn Thùy Q nộp lại số tiền 15.000.000 đồng, buộc Trần Trung H nộp lại số tiền 12.000.000 đồng, buộc Nguyễn Văn U nộp lại số tiền 20.000.000 đồng, buộc Nguyễn Quốc V nộp lại số tiền 7.000.000 đồng, buộc Lữ Kim T nộp lại số tiền 50.000.000 đồng, buộc Ngô Văn H nộp lại số tiền 15.000.000 đồng, buộc Trần Thanh A nộp lại số tiền 5.000.000 đồng, buộc Lê Thanh Ph nộp lại số tiền 5.000.000 đồng, buộc Trần Đô Nal nộp lại số tiền 18.000.000 đồng, buộc Giảng Thị Kiều Trang nộp lại số tiền 20.000.000 đồng, buộc Tô Giang Ngô M Ý nộp lại số tiền 12.000.000 đồng, buộc Nguyễn Khánh Th nộp lại số tiền 8.000.000 đồng, buộc Nguyễn Phương A nộp lại số tiền 7.000.000 đồng và buộc Lý Hồng Th nộp lại số tiền 10.000.000 đồng để sung vào công quỹ Nhà nước.
2.2 Về xử lý vật chứng:
- Trả lại cho anh Lý Tam T 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh đen, Model TA-1174, số Seri 357733101304280.
- Tịch thu tiêu hủy: 03 (ba) cuốn sổ có ghi chữ số liên quan đến việc cho vay tiền; 01 (một) con dấu khắc chữ Giám đốc; 03 (ba) cuốn hóa đơn thanh toán tiền thuê xe; 03 (ba) cuốn hóa đơn Giấy mua bán xe; 620 (sáu trăm hai mươi) card visit quảng cáo "Tư vấn cho vay"; 990 (chín trăm chín mươi) băng rôn quảng cáo (kích thước 50cm x 70cm) "Hỗ trợ vay vốn bằng cà vẹt, số điện thoại 0907926986"; 03 (ba) bao chứa nhiều thanh tre, kích thước 50cm x 03cm x 01cm; 10 (mười) tờ thông báo tìm người; 03 (ba) tờ giấy ủy quyền; 53 (năm mươi ba) biểu mẫu hợp đồng mua bán xe mô tô, giấy thông báo, đơn tố cáo; 08 (tám) phiếu yêu cầu công chứng; 01 (một) ba lô màu đen có chữ "Part of life SIMPLE CARRY";01 (một) thẻ ATM của Ngân hàng BIDV số 9704180106188410 tên Nguyen Quang Dai; 01 (Một) thẻ ATM của Ngân hàng BIDV số 9704180098734601 tên Nguyen Manh Hung; 01 (một) cuốn sổ bìa màu xanh có in chữ "CÔNG TY TNHH MTV NT CÀ MAU – HOTLINE: 0915.959.395, "PHIẾU NHẮC LỊCH THANH TOÁN TIỀN THUÊ XE".
- Tịch thu sung vào công quỹ nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6 Plus Gold, IMEI 3543 79062615471, gắn sim số 0967.581.131 của Nguyễn Mạnh H; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu đồng, IMEI 3543 89064900862, gắn sim số 0986141093 của Đỗ Văn M; 01 (một) CPU máy tính để bàn không nhãn hiệu đã qua sử dụng; 01 (một) màn hình máy tính để bàn hiệu DELL đã qua sử dụng; 12 (mười hai) thiết bị Smart Motor; 01 (Một) ổ cứng máy tính.
- Giao cho Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cà Mau tạm giữ số tiền 4.000.000 đồng gia đình các bị cáo Nguyễn Mạnh H và Đỗ Văn M (mỗi bị cáo 2.000.000 đồng) đã nộp để đảm bảo thi hành án.
(Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cà Mau đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/9/2022).
3. Án phí hình sự sơ thẩm các bị cáo Nguyễn Quang Đ, Nguyễn Mạnh H và Đỗ Văn M, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (chưa nộp).
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (được sửa đổi, bổ sung năm 2014).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Phòng KT-NV và THA TAND tỉnh Cà Mau (Gửi email); - VKSND tỉnh Cà Mau (01b) - Sở Tư pháp tỉnh Cà Mau (01b) - VKSND thành phố Cà Mau (1b); - CAND thành phố Cà Mau (3b); - THADS thành phố Cà Mau (1b); - Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; - Lưu hồ sơ vụ án, Văn phòng. | Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Thái Hoàng Đắc |