vanban.org

Bản án 152/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị B và anh T.

Về nuôi con chung: Giao con chung tên Phạm Lê Bình An, sinh ngày 08/5/2006 cho chị B trực tiếp nuôi dưỡng. Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa chị B với anh T"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị B và anh T.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 09 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ MỸ THO
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 152/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 06/9/2022
V/v: “Ly hôn giữa chị B với anh T

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Vĩnh Lộc

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Phạm Thị Ngọc Vân

2. Ông Lê Thanh Bình

- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Thoảng - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Mỹ Tho

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Cẩm Thúy – Kiểm sát viên

Ngày 06 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 313/2022/TLST - HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2022 về tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 117/2022/QĐXXST - DS ngày 22 tháng 7 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị B, sinh năm 1981; Địa chỉ: ấp H, xã T, huyện T, tỉnh G.

2. Bị đơn: Anh T, sinh năm 1977; Địa chỉ: 171 X, phường Y, TP. T, tỉnh G.

Chị B, anh T vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 22 tháng 4 năm 2022 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị B trình bày:

- Về hôn nhân: Chị và anh T cưới nhau vào năm 2001 nhưng không có đăng ký kết hôn. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, anh T không chăm lo đời sống chung gia đình. Chị và anh T đã ly thân từ tháng 06/2019 đến nay. Nay chị thấy vợ chồng không còn hạnh phúc và không thể hàn gắn được nên chị yêu cầu ly hôn với anh T.

- Về con chung: Có hai con chung tên Lê Thị Bình Tâm, sinh ngày 19/02/2002 và Phạm Lê Bình An, sinh ngày 08/5/2006. Hiện cháu Tâm đã trưởng thành, cháu An đang sống chung với chị. Khi ly hôn chị yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi con.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu giải quyết.

- Về tài sản chung: Không có

- Về nợ chung: Không có

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh T trình bày:

- Về hôn nhân: Anh đồng ý ly hôn với chị B

- Về con chung: Có hai con chung tên Lê Bình Tâm, sinh ngày 19/02/2002 và Phạm Lê Bình An, sinh ngày 08/5/2006. Hiện cháu Tâm đã trưởng thành, cháu An đang sống với chị B. Khi ly hôn anh để chị B được quyền trực tiếp nuôi con.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu giải quyết.

- Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết

- Về nợ chung: Không có

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho phát biểu quan điểm

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của đương sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng quy định pháp luật.

Về việc giải quyết vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền: Chị B có đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn với anh T nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn, Tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh T có nơi cư trú tại phường Y, thành phố Mỹ Tho nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của đương sự: Chị B có đơn xin giải quyết vắng mặt, anh T đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt đương sự là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

Về hôn nhân: Anh T và chị B chung sống với nhau vào năm 2001 nhưng không có đăng ký kết hôn là vi phạm Điều 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên hôn nhân giữa anh T với chị B là không hợp pháp. Do đó, Hội đồng xét xử thống nhất với đề nghị của Kiểm sát viên, không công nhận anh T và chị B là vợ chồng.

Về con chung: Chị B và anh T có hai con chung tên Lê Thị Bình Tâm, sinh ngày 19/02/2002 và Phạm Lê Bình An, sinh ngày 08/5/2006. Hiện cháu Tâm đã trưởng thành, các đương sự không có yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Cháu An đang sống chung với chị B.

Xét thấy hiện cháu An cũng đang sống trực tiếp với chị B nên để tránh xáo trộn trong cuộc sống ảnh hưởng đến việc sinh hoạt của cháu, xuất phát từ lợi ích mọi mặt của con chung, Hội đồng xét xử thống nhất với đề nghị của Kiểm sát viên, chấp nhận yêu cầu của chị B, giao cháu An cho chị B trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị B không có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét. Vì lợi ích của con, chị B có quyền yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con bằng một vụ án khác.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị B, anh T không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị B chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo đối với bản án: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; Điều 09; Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị B và anh T.

2. Về nuôi con chung: Giao con chung tên Phạm Lê Bình An, sinh ngày 08/5/2006 cho chị B trực tiếp nuôi dưỡng.

Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Phạm Thị Binh chịu tiền án phí sơ thẩm là 300.000 đồng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 22203 ngày 06 tháng 5 năm 2022 của Cơ quan thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho.

4. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ