vanban.org

Bản án 152/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Khoản 1 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 56; Điều 58; Điều 81; khoản 1, khoản 3 Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;

Áp dụng: Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Hồng Phương Q. Bà Nguyễn Hồng Phư… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp về hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 56; Điều 58; Điều 81; khoản 1, khoản 3 Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 152/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 05-10-2020
V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Đức

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Viết Oanh; Bà Nguyễn Thị Tú Oanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thùy Linh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột không tham gia phiên tòa.

Ngày 05 tháng 10 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 299/2020/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2020 về việc “Tranh chấp ly hôn, con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 111/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 18/9/2020, giữa:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Hồng Phương Q - Sinh năm: 1985

Địa chỉ: Số X đường Y, thôn Z, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Đức D - Sinh năm: 1983

Địa chỉ: Số X đường Y, thôn Z, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

* Nguyên đơn - Bà Nguyễn Hồng Phương Q trình bày:

Tôi và ông Nguyễn Đức D chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã H, thành phố B, tỉnh Đăk Lăk vào năm 2007. Trong quá trình chung sống với nhau, chúng tôi hạnh phúc đến năm 2019 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân nảy sinh mâu thuẫn do chúng tôi không cùng quan điểm sống, khi xảy ra cãi vã ông D đã có một số lần dùng bạo lực đối với tôi. Chúng tôi đã cố gắng hòa giải nhưng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, không thể hàn gắn được. Nay tôi thấy tình cảm vợ chồng giữa tôi và ông D không còn nữa, chúng tôi đã sống ly thân hơn 01 năm nay, nguyện vọng của tôi xin được ly hôn.

Về con chung: Chúng tôi có 01 con chung là cháu Nguyễn Gia Ng, sinh ngày 10/11/2007. Tôi đang nuôi dưỡng cháu nên tôi có nguyện vọng được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cháu cho đến tuổi trưởng thành.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tôi không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Tôi xin rút yêu cầu chia tài sản chung để tự thỏa thuận với ông D.

Về nợ chung: Không có.

* Bị đơn - Ông Nguyễn Đức D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến Tòa án làm việc. Do đó không thể tiến hành lấy lời khai cũng như tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải được.

NHẬN ĐỊNH:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết quả thẩm tra công khai các tài liệu, chứng cứ tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Căn cứ hồ sơ vụ án, nội dung khởi kiện của nguyên đơn - bà Nguyễn Hồng Phương Q là tranh chấp hôn nhân gia đình về ly hôn và nuôi con, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng:

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà Nguyễn Hồng Phương Q vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt; Bị đơn ông Nguyễn Đức D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, do đó Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đảm bảo đúng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Bà Nguyễn Hồng Phương Q và ông Nguyễn Đức D chung sống và kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, thành phố B, tỉnh Đăk Lăk vào ngày 09/12/2003. Xác định đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Quá trình duy trì hôn nhân giữa bà Q và ông D có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, ông D thường xuyên vắng nhà, không quan tâm gia đình. Đến nay bà Q xác định không còn tình cảm vợ chồng với ông D nữa và đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Đức D.

Quá trình xác minh địa phương cung cấp: Quá trình chung sống giữa bà Q và ông D có xảy ra mâu thuẫn. Về nguyên nhân mâu thuẫn: Vợ chồng bà Nguyễn Hồng Phương Q và ông Nguyễn Đức D không yêu cầu hòa giải tại cơ sở vì vậy nguyên nhân mâu thuẫn là do đâu thì địa phương không biết nên không thể cung cấp cho Tòa án được.

Hội đồng xét xử xét thấy: Mâu thuẫn vợ chồng giữa bà Nguyễn Hồng Phương Q và ông Nguyễn Đức D đã ở mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Q, là phù hợp theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Vợ chồng bà Q, ông D có 01 con chung là cháu Nguyễn Gia Ng, sinh ngày 10/11/2007. Khi ly hôn, nguyện vọng của bà Q là được chăm sóc, nuôi dưỡng cháu đến tuổi trưởng thành. Hội đồng xét xử xét thấy: Hiện nay cháu Ng đang sống cùng với bà Q và bà Q có nguyện vọng nuôi dưỡng cháu. Vì vậy, để đảm bảo sự phát triển về thể chất và tinh thần của cháu nên giao cháu cho bà Nguyễn Hồng Phương Q trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Q không yêu cầu nên không đề cập xem xét.

Về tài sản chung: Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Hồng Phương Q đã rút yêu cầu chia tài sản chung. Vì vậy, cần đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu chia tài sản chung là phù hợp.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra để giải quyết.

Về án phí: Bà Nguyễn Hồng Phương Q phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Bà Q được nhận số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu chia tài sản chung.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm c khoản 1 Điều 217; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 266; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự;

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 56; Điều 58; Điều 81; khoản 1, khoản 3 Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;

- Áp dụng: Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Hồng Phương Q. Bà Nguyễn Hồng Phương Q được ly hôn ông Nguyễn Đức D.

2. Về con chung:

2.1. Giao con chung Nguyễn Gia Ng, sinh ngày 10/11/2007 cho bà Nguyễn Hồng Phương Q được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi thành niên (đủ 18 tuổi).

Ông Nguyễn Đức D có quyền, nghĩa vụ thăm nom chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.

2.2. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Nguyễn Hồng Phương Q không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra để giải quyết.

3. Về tài sản chung: Đình chỉ giải quyết yêu cầu chia tài sản chung của nguyên đơn bà Nguyễn Hồng Phương Q.

4. Về nợ chung: Không có.

5. Về án phí: Bà Nguyễn Hồng Phương Q phải nộp 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ trong số tiền tạm ứng án phí 7.800.000 đồng đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk theo biên lai thu số AA/2019/0001911 ngày 04 tháng 7 năm 2019.

Bà Nguyễn Hồng Phương Q được nhận lại số tiền 7.500.000 đồng tạm ứng án phí còn lại.

Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ