- Tranh chấp gì? án hình sự — "Chu Văn T tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38;
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 152/2019/HS-ST Ngày 12 - 11 - 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ích Yên
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hợi
Ông Vũ Ngọc Dũng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân
dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình tham gia phiên
tòa: Ông Man Anh Hùng - Chức vụ: Kiểm sát viên sơ cấp.
Ngày 12 tháng 11 năm 2019, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân
huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 147/2019/HSST, ngày 15 tháng 10 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 161/2019/HSST-QĐ ngày 30 tháng 10 năm 2019, đối với bị cáo:
Họ và tên: CHU VĂN T, sinh năm 1994
Nơi thường trú: Xóm G, xã K, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp:
Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Nùng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Chu Văn L, sinh năm 1968; Con bà: Kim Thị H, sinh năm: 1972; Vợ, con: Chưa có; Gia đình bị can có 03 anh chị em, bị can là con thứ hai trong gia đình; Tiền án, Tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/8/2019 cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Phú Bình.
(Có mặt tại phiên tòa)
- Người làm chứng: Anh Trịnh Huy H, sinh năm 1980
Trú tại: Xóm H, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
(Vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại
phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 09 giờ 30 phút ngày 27/8/2019, Tổ công tác Công an huyện Phú
Bình phối hợp cùng Công an xã Điềm Thụy, huyện Phú Bình đang làm nhiệm vụ tại khu vực xóm T, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên thì phát hiện một nam thanh niên có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác tiếp cận và yêu cầu cho kiểm tra, nam thanh niên tự khai tên là Chu Văn T, sinh năm 1994, trú tại: Xóm G, xã K, huyện Đ, Thái Nguyên. Đồng thời, T tự giác lấy từ trong túi quần bên trái phía sau đang mặc ra 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng (theo T khai nhận đó là ma túy Hêrôin của T) và giao nộp cho tổ công tác. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng theo quy định (ký hiệu A) và đưa T về trụ sở Công an để điều tra làm rõ.
Căn cứ vào tài liệu điều tra ngày 28/8/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra
Công an huyện Phú Bình đã thi hành lệnh khám xét khẩn cấp đối với đồ vật, nhà ở, khu vực nhà ở của Chu Văn T nhưng không phát hiện, thu giữ được gì liên quan đến vụ án.
Hồi 19 giờ 30 ngày 27/8/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện
Phú Bình phối hợp cùng phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên tiến hành cân xác định khối lượng số chất bột dạng cục màu trắng thu giữ của Chu Văn T niêm phong trong bì thư (ký hiệu A), có tổng khối lượng là 0,291 gam, lấy toàn bộ làm mẫu (ký hiệu A1) gửi giám định.
Tại bản kết luận giám định số 1229/KL-KTHS ngày 04/9/2019 của
phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Chất bột dạng cục màu trắng trong mẫu (ký hiệu A1) thu giữ của Chu Văn T gửi đến giám định là chất ma túy, loại Hêrôin, có khối lượng là 0,291 gam.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Chu Văn T khai nhận: T nghiện
ma túy loại Hêrôin từ năm 2017 nên thường phải đi mua ma túy về sử dụng cho bản thân dưới hình thức “hít” ma túy vào cơ thể. Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 27/08/2019, T một mình đi xe bus đến khu vực cổng khu Công nghiệp Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên để tìm mua ma túy. Tại đây, T gặp một người đàn ông không rõ tên tuổi địa chỉ, T hỏi và mua được của người đàn ông này 01 gói ma túy Hêrôin với giá 200.000 đồng. Mua được ma túy, T cất vào túi quần bên trái phía sau đang mặc rồi đi bộ đến khu vực xóm T, xã Đ, huyện P để tìm nơi sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị Công an bắt quả tang như đã nêu trên.
Tại Bản cáo trạng số 156/CT-VKS-PB, ngày 10/10/2019 của Viện kiểm
sát nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo Chu Văn T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Chu Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51,
Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt, bị cáo Chu Văn T từ 24 đến 30 tháng tù. Không phạt bổ sung bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106
của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong ký hiệu A1 bên trong có chứa chất Hêrôin được hoàn lại sau giám định.
Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản
án theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có tranh luận gì. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét
xử xem xét giảm nhẹ hình phạt thấp nhất cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Cơ
quan điều tra Công an huyện Phú Bình, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận tội
đúng như nội dung cáo trạng đã truy tố và phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng thu giữ, biên bản bắt quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để xác định: Khoảng 09 giờ 45
phút ngày 27/08/2019, tại khu vực xóm T, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, Chu Văn T là người nghiện chất ma túy đang có hành vi tàng trữ trên người 0,291 gam ma túy, loại Hêrôin với mục đích để sử dụng cho bản thân nhưng chưa kịp sử dụng thì bị Công an huyện Phú Bình bắt quả tang thu giữ cùng vật chứng.
Hành vi nêu trên của bị cáo Chu Văn T có đủ yếu tố cấu thành tội phạm.
Do vậy, Hội đồng xét xử kết luận bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Nội dung của Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định:
1. “Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích
mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”.
c) Hêrôin ... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
...
2. ...”
. Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các
tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm hại đến chính sách độc quyền quản
lý của Nhà nước ta về các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương, còn là nguyên nhân làm phát sinh các tội phạm khác và tệ nạn xã hội,.... Hành vi đó cần phải xử lý nghiêm minh bằng pháp luật hình sự nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo, răn đe và phòng ngừa chung.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại
phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, bị cáo hưởng một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Ngoài ra, Hội đồng xét xử thấy bị cáo là người dân tộc thiểu số, do đó bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình
tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự.
. Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào khoản 5 Điều 249 của Bộ luật
hình sự, Hội đồng xét xử thấy việc bị cáo phạm tội không có mục đích thu lời bất chính, do đó không cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp: Căn cứ vào Điều 47
của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xử lý vật chứng như sau:
Đối với 01 bì niêm phong ký hiệu A1 bên trong có chứa 0,281 gam ma
túy Hêrôin mẫu hoàn lại sau giám định, xét thấy đây là vật chứng không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
. Về bắt tạm giam bị cáo sau khi tuyên án: Căn cứ vào Điều 329 của
Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử ra Quyết định tạm giam bị cáo Chu Văn T với thời hạn 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo việc thi hành án.
. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát trong lời luận tội về tội
danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt, xử lý vật chứng vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật cần chấp nhận.
. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ
luật hình sự cần buộc bị cáo phải chịu một khoản án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước.
. Thông báo quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án
trong hạn luật định
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ pháp luật áp dụng:
- Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38;
của Bộ luật hình sự;
- Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106; Khoản 2 Điều 136, Điều 329
của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Chu Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép
chất ma túy”.
2. Về hình phạt chính: Xử phạt
Chu Văn T 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ
ngày 27 tháng 8 năm 2019.
3. Về bắt tạm giam bị cáo sau khi tuyên án: Ra Quyết định tạm giam bị
cáo Chu Văn T với thời hạn 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
4. Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp:
Tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong ký hiệu A1 bên trong có chứa 0,281
gam ma túy Hêrôin còn lại sau giám định.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/10/2019 giữa Cơ quan cảnh
sát điều tra của Công an huyện Phú Bình và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Bình).
5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Chu Văn T phải nộp 200.000đ (Hai
trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước.
6. Thông báo quyền kháng cáo: Bị cáo Chu Văn T có quyền kháng cáo
bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thái Nguyên; - VKS ND tỉnh Thái Nguyên; - VKS ND huyện Phú Bình; - Cơ quan điều tra CA huyện Phú Bình; - CQTHAHS Công an huyện Phú Bình; - CC T.H.A DS huyện Phú Bình; - Bị cáo; - Lưu: HS, VP, T.H.A HS./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ích Yên |