- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tran ngoc h- du van n"
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!THỚI!BÌNH! CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM! TỈNH!CÀ!MAU Bản án số: 152/2019/HNGĐ-ST Ngày: 25-10-2019 |
V/v không công nhận vợ chồng
NHÂN!DANH!
NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!THỚI!BÌNH,!TỈNH!CÀ!MAU!
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Kiều Trang
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Tấn Lộc
2. Ông Hồ Quốc Văn
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Hồng Như là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.
Ngày 25 tháng 10 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 286/2019/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2019 về việc không công nhận vợ chồng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 169/2019/QĐXX-ST ngày 02 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Trần Ngọc H, sinh năm 1987 (có mặt)
Địa chỉ: Ấp A, xã TL, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.
2. Bị đơn: Anh Du Văn N, sinh năm 1986 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp A, xã TL, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.
NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!!
*Tại đơn khởi kiện ngày 09/7/2019 và tại phiên tòa chị Trần Ngọc H trình bày:
Chị H và anh N tự nguyện chung sống với nhau có tổ chức lễ cưới năm 2004 nhưng không có đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên anh chị không còn chung sống với nhau từ tháng 6/2019 đến nay. Do đó, chị H yêu cầu chấm dứt mối quan hệ với anh N.
Con chung tên Du NN, sinh ngày 19/11/2006 và Du NNN, sinh ngày 15/5/2008. Hiện con chung do anh N nuôi dạy. Khi chị H và anh N xảy ra mâu thuẫn, anh chị đã thỏa thuận giao con chung cho anh N tiếp tục nuôi dạy nhưng chị H không cấp dưỡng nuôi con.
Tài sản chung, nợ chung: Không có nên chị H không yêu cầu giải quyết.
NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng và quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Trần Ngọc H khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn là anh Du Văn N. Do chị H và anh N chung sống với nhau nhưng không có đăng ký kết hôn nên đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc không công nhận vợ chồng; Anh N có nơi cư trú tại ấp A, xã TL, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của chị H thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án có thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và có tống đạt hợp lệ cho anh N nhưng anh N không có ý kiến bằng văn bản đối với yêu cầu của chị H và vắng mặt tại phiên họp, hòa giải không có lý do. Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử và có tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng này cho anh N nhưng anh N vắng mặt tại các lần xét xử không có lý do. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh N theo quy định tại khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
[3] Về hôn nhân: Chị H và anh N tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2004 có tổ chức lễ cưới nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh N chưa tuân thủ về điều kiện đăng ký kết hôn tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định của luật hôn nhân và gia đình. Quá trình chung sống, anh chị có đủ điều kiện đăng ký kết hôn nhưng anh chị không thực hiện đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 8, Điều 9 luật Hôn nhân và gia đình nên không được pháp luật thừa nhận là vợ chồng. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 14, Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình không công nhận chị Trần Ngọc H và anh Du Văn N là vợ chồng.
[3] Về con chung: Thời gian chung sống, chị H và anh N có 02 con chung tên Du NN, sinh ngày 19/11/2006 (giới tính nam) và Du NNN, sinh ngày 15/5/2008 (giới tính nam). Xét thấy, việc chị H và anh N tự thỏa thuận và chị H tự nguyện giao con chung
2
cho anh N tiếp tục nuôi dạy là có cơ sở. Bởi vì, chị H xác định con chung hiện anh N đang trực tiếp nuôi dạy, việc hoán đổi nuôi con sẽ ảnh hưởng đến tình cảm của các cháu. Do đó, cần tiếp tục giao con chung cho anh N nuôi dạy là phù hợp theo Điều 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình.
Anh N đã nhận được thông báo thụ lý của Tòa án về việc thông báo yêu cầu của chị H nhưng anh N không có ý kiến đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về tài sản chung nợ chung: Tại đơn khởi kiện ngày 09/7/2019 cũng như tại phiên tòa, chị H cho rằng thời gian chung sống anh chị không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét là phù hợp.
[5] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Trần Ngọc H phải chịu án phí – Theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT!ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 14, 53, 81, 82, 83 của luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1.Xét xử vắng mặt đối với anh Du Văn N.
2.Về hôn nhân: Không công nhận chị Trần Ngọc H và anh Du Văn N là vợ chồng.
3.Về con chung: Giao con chung tên Du NN, sinh ngày 19/11/2006 (giới tính nam) và Du NNN, sinh ngày 15/5/2008 (giới tính nam) cho anh Du Văn N tiếp tục nuôi dạy. Chị Trần Ngọc H không phải cấp dưỡng nuôi con. Chị H không trực tiếp nuôi dạy con chung nhưng chị có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền cản trở.
4.Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
5.Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Trần Ngọc H phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Vào ngày 09 tháng 7 năm 2019 chị H có dự nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0010526 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình nay được chuyển thu án phí.
3
6.Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Báo cho chị H biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án. Riêng anh N vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án.
| Nơi nhận: - Các đương sự; -VKSND huyện Thới Bình; -THADS huyện Thới Bình; -TAND tỉnh Cà Mau; -Lưu hồ sơ. | TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!SƠ!THẨM! ! ! !!!!!!!!!!!!!THẨM!PHÁN!-!CHỦ!TỌA!PHIÊN!TOÀ! !!!!!!!Nguyễn!Kiều!Trang! 4 |