- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Hoàng A phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 331, Điều
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƢƠNG TỈNH HẢI DƢƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| --------------- Bản án số:152/2018/HSST Ngày 21-8-2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƢƠNG, TỈNH HẢI DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Quang Khỏe
Ông Nguyễn Văn Quyết
-Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Oanh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Nhiệm - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2018 tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 135/2018/HSST ngày 20 tháng 7 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 148/2018/QĐXXST-HS ngày 07-8-2018 đối với bị cáo:
Lê Hoàng A, sinh năm 1985;
ĐKHKTT: số 2/49/166 Lê Lai, phường Máy Chai, quận N, thành phố Hải Phòng; Chỗ ở: 5/17 Trần Phú, phường K, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng; Quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Dân tộc: Kinh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; con ông Lê Anh Q, sinh năm 1956 và bà Đỗ Thị K, sinh năm 1956: chồng là Nguyễn Anh T, sinh năm 1988 (đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2014. Tiền án, tiền sự: Chưa;
Bị cáo bị tạm giữ ngày 01-6-2018, chuyển tạm giam ngày 07-6-2018 đến nay tại Trại tạm giam Kim Chi - Công an tỉnh Hải Dương. Có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng:
1. Anh Trần Trung K, SN 1986;
Địa chỉ: Khu 21, phường N, TP Hải Dương, tỉnh Hải Dương.
2. Anh Phạm Văn H, SN 1971;
Địa chỉ: Khu 3, phường N, TP Hải Dương, tỉnh Hải Dương.
(Đều vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ ngày 01/6/2018, Lê Hoàng A đi xe khách từ thành phố Hải Phòng đến khu vực cầu vượt 79 thuộc phường Bình Hàn, thành phố Hải Dương. Tại đây A mua được 01 túi ma túy tổng hợp của một người đàn ông (không rõ họ tên, địa chỉ) với số tiền 2.000.000đ rồi cầm trên tay phải đi tìm nơi sử dụng. Đến khoảng 18 giờ 20’ cùng ngày khi A đi đến trước cửa nhà hàng 559 thuộc khu 4, phường Bình Hàn, thành phố Hải Dương thì bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy (PC47) Công an tỉnh Hải Dương phát hiện bắt quả tang. Thu giữ trong lòng bàn tay phải của A 01 túi nilon màu trắng kích thước (5x7)cm, bên trong chứa chất tinh thể rắn màu trắng, trước sự chứng kiến của anh Trần Trung K và anh Phạm Văn H. Theo Lê Hoàng A khai nhận đây là ma túy tổng hợp mua để sử dụng cho bản thân.
Tại Kết luận giám định số 372/KLGĐ ngày 04-6-2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương kết luận: chất tinh thể màu trắng ghi thu của Lê Hoàng A, gửi đến giám định có khối lượng là 6,238 gam là loại Methamphetamine. Methamphetamine nằm trong danh mục II, STT: 323, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ. Hoàn lại 5,903 gam Methamphetamine sau khi giám định.
Tại bản cáo trạng số 145/VKS-HS ngày 18-7-2018, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương truy tố Lê Hoàng A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo Lê Hoàng A khai: Do vợ chồng ly hôn, bị cáo đã buồn chán nên hơn 1 tháng trước khi bị bắt đã sử dụng ma túy, bị cáo không nghiện ma túy. Ngày 01-6-2018 bị cáo đã mua ma túy về sử dụng cho bản thân, không có mục đích gì khác. Bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về Kết luận giám định Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương, xác định VKSND thành phố Hải Dương truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là đúng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: bị cáo Lê Hoàng A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt chính: Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt: bị cáo Lê Hoàng A từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 01-6-2018.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu, tiêu hủy 5,903 gam Methamphetamine hoàn lại sau giám định.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS, Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Quốc hội. Bị cáo Lê Hoàng A phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Lê Hoàng A không có ý kiến tranh luận gì đối với luận tội của Kiểm sát viên và nói lời sau cùng đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo Lª Hoµng Ph ¬ng Anh tại phiên toà phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai của người làm chứng tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 18 giờ 20’ ngày 01/6/2018, tại trước cửa nhà hàng 559 thuộc khu 4, phường Bình Hàn, thành phố Hải Dương, Lê Hoàng A đã có hành vi cất giấu trái phép 6,238 gam Methamphetamine để sử dụng cho bản thân thì bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy (PC47) Công an tỉnh Hải Dương phát hiện bắt quả tang.
Bị cáo Lª Hoµng Ph ¬ng Anh là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được Methamphetamine là chất ma túy gây nghiện có tác hại không chỉ cho sức khỏe của con người mà còn là nguyên nhân gây phát sinh các loại tội phạm khác trong xã hội, việc bị cáo Lª Hoµng Ph ¬ng Anh đã có hành vi cất giấu tàng trữ trái phép 6,238gam Methamphetamine với mục đích sử dụng cho bản thân là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Với khối lượng và hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương truy tố bị cáo Lª Hoµng Ph ¬ng Anh về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo Lª Hoµng Ph ¬ng Anh là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm chính sách độc quyền về quản lý chất ma tuý của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương và xã hội nên cần thiết phải xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự.
Xem xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy: Bị cáo là người chưa có tiền án, tiền sự. Về tình tiết tăng nặng: không có; về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo Lª Hoµng Ph ¬ng Anh thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo cần thiết xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Lª Hoµng A không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với 6,238gam Methamphetamine thu giữ của bị cáo. Sau khi giám định, Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương hoàn lại mẫu vật là 5,903 gam Methamphetamine. Xét thấy, đây là vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành, tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo Lª Hoµng A phạm tội nên phải chịu án phí sơ thẩm hình sự theo quy định của pháp luật.
Đối với người bán trái phép chất ma túy cho A không rõ tên, tuổi, địa chỉ nên không có căn cứ xử lý là phù hợp.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Hải Dương, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 331, Điều 333; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25-11-2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Quốc Hội.
1. Về tội danh: Tuyên bố: Bị cáo Lª Hoµng A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
2. Về trách nhiệm hình sự:
- Về hình phạt chính:
Xử phạt: Bị cáo Lª Hoµng A 05 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 01-6-2018.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng
3. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy số ma túy đựng trong 01 phong bì được niêm phong dán kín số 372/KLGĐ-PC54 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương;
(Hiện trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24-7-2018 giữa Công an thành phố Hải Dương và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hải Dương).
4. Về án phí: Bị cáo Lª Hoµng A phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Lª Hoµng A được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hải Dương; - VKSND TP Hải Dương; - Công an TP Hải Dương; - Trại tạm giam Kim Chi-CA tỉnh HD; - Chi cục THADS TP Hải Dương; - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. TP Nguyễn Thị Thu Lê Hoàng A, sinh năm 1985; thành phố Hải Phòng; Chỗ ở: 5/17 Trần Phú, phường Lương Khánh Thiện, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng; Tiền án, tiền sự: Chưa; đến nay tại Trại tạm giam Kim Chi- Công an tỉnh Hải Dương. NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN: tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: phiên toà phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai của người làm chứng tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận: Kho¶ng 18h20’ ngµy 01/6/2018, t¹i tr íc cöa nhµ hµng 559 thuéc khu 4, ph êng B×nh Hµn, thµnh phè H¶i D ¬ng, Lª Hoµng Ph ¬ng Anh ®ang có hành vi cÊt giÊu tr¸i phÐp 6,238 gam Methamphetamine ®Ó sö dông cá nhân th× bÞ Phßng C¶nh s¸t ®iÒu tra téi ph¹m vÒ ma tóy (PC47) C«ng an tØnh H¶i D ¬ng ph¸t hiÖn b¾t qu¶ tang. hình sự, nhận thức được Methamphetamine là chất ma túy gây nghiện có tác hại không chỉ cho sức khỏe của con người mà còn là nguyên nhân gây phát sinh các loại tội phạm khác trong xã hội, việc bị cáo Lª Hoµng Ph ¬ng Anh đã có hành vi cất giấu tàng trữ trái phép 6,238gam Methamphetamine với mục đích sử dụng là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích thỏa mãn cơn nghiện và ý thức coi thường pháp luật mà bị cáo cố ý thực hiện. Với khối lượng và hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương truy tố bị cáo Lª Hoµng Ph ¬ng Anh về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. hội, hành vi đó đã xâm phạm chính sách độc quyền về quản lý chất ma tuý của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương và xã hội nên cần thiết phải xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự. thì thấy: Bị cáo là người chưa có tiền án, tiền sự. Về tình tiết tăng nặng: không có; về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo Lª Hoµng Ph ¬ng Anh thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. mức hình phạt nghiêm mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. nghiệp, thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Dương thu giữ của bị cáo 6,238gam Methamphetamine. Sau khi giám định, Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương hoàn lại mẫu vật là 5,903 gam Methamphetamine. Xét thấy, đây là vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành, tàng trữ nên tịch thu tiêu hủy theo quy định của pháp luật. phí sơ thẩm hình sự theo quy định của pháp luật. phố Hải Dương, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Vì các lẽ trên, QUYẾT ĐỊNH: 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 331, Điều 333; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25-11-2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Quốc Hội. “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Về hình phạt chính: Xử phạt: Bị cáo Lª Hoµng Ph ¬ng Anh thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 01-6-2018. Về hình phạt bổ sung: không áp dụng 2. Về xử lý vật chứng: kín số 372/KLGĐ-PC54 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương; (Hiện trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày Công an thành phố Hải Dương và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hải Dương). hình sự sơ thẩm. cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thị Thu Báo cáo vụ Lê Hoàng A Xét xử ngày 21-8-2018 ------------ ĐKHKTT: số 2/49/166 Lê Lai, phường Máy Chai, quận Ngô Quyền, Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01-6-2018, chuyển tạm giam từ ngày 07-6-2018 Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được [1] Về hành vi của bị cáo: Lời khai của bị cáo Lª Hoµng Ph ¬ng Anh tại [2] Bị cáo Lª Hoµng Ph ¬ng Anh là người có đủ năng lực trách nhiệm Hành vi phạm tội của bị cáo Lª Hoµng Ph ¬ng Anh là nguy hiểm cho xã [3] Xem xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo cần thiết xử phạt bị cáo [4] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Lª Hoµng Ph ¬ng Anh không có nghề [5] Về xử lý vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an thành phố Hải [6] Về án phí: Bị cáo Lª Hoµng Ph ¬ng Anh phạm tội nên phải chịu án [7] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm c khoản 1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố: Bị cáo Lª Hoµng Ph ¬ng Anh phạm tội tháng tù, Tịch thu tiêu hủy số ma túy đựng trong 01 phong bì được niêm phong dán giữa 3. Về án phí: Bị cáo Lª Hoµng Ph ¬ng Anh phải chịu 200.000đ án phí 4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Lª Hoµng Ph ¬ng Anh được quyền kháng Đề xuất vụ Nguyễn Văn Bình Xét xử ngày 07-3-2018 --------------- Người đề xuất TP Nguyễn Thị Thu |