vanban.org

Bản án 152/2018/HSST — Hình sự

TAND Q. Hà Đông, TP. Hà Nội Tuyên án 17/09/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Mai Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Mai Văn T 15 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/5/2018. Về xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mai Văn T tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Mai Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HÀ ĐÔNG
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 152/2018/HSST
Ngày: 17/9/2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Hạnh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Quốc Thái

Bà Nguyễn Thị Tiến

-Thư ký phiên tòa : Bà Đinh Thị Hường – Thư ký Tòa án

-Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hà Đông tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 17/9/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hà Đông xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 148/2018/HSST ngµy 07 th¸ng 8 n¨m 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 168/2018/QĐXXST-HS ngày 04/9/2018 đối với bị cáo :

Mai Văn T, sinh năm 1972.

ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn Q, xã L, huyện N, tỉnh H; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; con ông Mai Văn V ( đã chết) và bà Nguyễn Thị T; vợ: Phạm Thị L, có 01 con sinh năm 2004; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/5/2018 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại giam số 2 – Công an thành phố Hà Nội. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Chị Phạm Thị L, sinh năm 1975

Trú tại: Thôn Q, xã L, huyện N, tỉnh H. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 14/5/2018, Mai Văn T là đối tượng nghiện, điều khiển xe máy Yamaha BKS 30Z6 – 0367 từ khu đô thị Xa La, phường Phúc La, quận Hà Đông đến khu vực bệnh viện 09, địa phân xã Tân Triều, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội để tìm mua ma túy về sử dụng. Đến nơi, thấy một người nam giới không quen biết đang đứng ở lề đường trông giống người nghiện, T lại gần thì người nam giới này hỏi: “Có mua hàng không”. T hiểu ý là người này hỏi mua ma túy và bảo có, người nam giới hỏi mua bao nhiêu thì T bảo “bán cho em một trăm nghìn đồng” đồng thời T lấy trong người ra 100.000 đồng đưa cho người nam giới này và được đưa cho 01 gói giấy kích thước (1x2)cm, bên trong chứa chất bột màu trắng (ma túy heroin). Mua xong, T cầm ma túy ở tay rồi tiếp tục đi xe máy để tìm nơi sử dụng. Khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, khi đi đến khu vực tổ 16, phường Kiến Hưng, quận Hà Đông thì bị tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận Hà Đông phối hợp với Công an phường Dương Nội phát hiện bắt giữ. Vật chứng thu giữ tại lòng bàn tay trái của Mai Văn T 01 gói giấy bạc có đặc điểm trên. Lực lượng công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Mai Văn T, niêm phong vật chứng, chiếc xe máy Yamaha màu đỏ đen BKS 30Z6 – 0367, số khung 086475, số máy 086480. Sau đó được đưa về trụ sở Cơ quan CSĐT Công an quận Hà Đông để điều tra xử lý.

Ngày 14/5/2018, Cơ quan điều tra quyết định trưng cầu giám định gói niêm phong thu giữ của Mai Văn T nêu trên. Tại bản kết luận giám định số 4829/KLGĐ-PC54 ngày 23/5/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội, kết luận:

“Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy bạc là ma tú y loại Heroine, khối lượng 0,199 gam”.

Tại bản cáo trạng số 155/2018/HSST ngày 07/8/2018, Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông truy tố bị cáo Mai Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự 2015.

Tại phiên tòa:

Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Phạm Thị L (vợ bị cáo T) đề nghị việc bị cáo T mang chiếc xe xe máy Yamaha màu đỏ đen BKS 30Z6 – 0367 để đi mua ma túy là xe do chị bỏ tiền ra mua năm 2016 của một cửa hàng xe cũ, nay chị không nhớ tên địa chỉ của cửa hàng, khi mua bán không có giấy tờ xe; bị cáo T mang xe đi mua ma túy chị không biết nay chị đề nghị tòa án cho chị xin lại chiếc xe để làm phương tiện đi làm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông giữ quyền công tố tại phiên tòa trong phần tranh luận vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Bị cáo có nhân thân tốt chưa tiền án, tiền sự, thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải để xem xét giảm một phần hình phạt cho bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo Mai Văn T từ 15 đến 18 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo vì bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định.

Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy ma túy đã thu giữ của bị cáo được niêm phong trong phong bì dán kín. Trả lại chiếc xe máy Yamaha màu đỏ đen BKS 30Z6 – 0367, số khung 086475, số máy 086480 cho chị Phạm Thị L.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hà Đông, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

2. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Mai Văn T là đối tượng nghiện ma túy, nên khoảng 17 giờ ngày 14/5/2018, T đã đi xe máy Yamaha màu đỏ đen BKS 30Z6 – 0367 từ khu đô thị Xa La, phường Phúc La, quận Hà Đông đến khu vực bệnh viện 09, địa phận xã Tân Triều, huyện Thanh Trì để mua 01 gói ma túy với giá 100.000 đồng của một người nam giới không quen biết. Sau khi mua được ma túy, T đi xe máy để tìm nơi sử dụng ma túy, khi đi đến tổ 16, phường Kiến Hưng, quận Hà Đông phát hiện bắt quả tang, thu giữ trong lòng bàn tay trái của T 01 gói ma túy và chiếc xe máy Yamaha màu đỏ đen BKS 30Z6 – 0367.

Hành vi tàng trữ trái phép 0,199gam ma túy loại heroin nhằm mục đích sử dụng của bị cáo đã thỏa mãn dấu hiệu của tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự 2015. Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông đã truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo nhận thức được ma túy là mối hiểm họa của toàn xã hội, là nguyên nhân làm lây lan các bệnh HIV – AIDS và còn làm phát sinh các loại tội phạm khác nhưng do mong muốn thỏa mãn cơn nghiện nên đã phạm tội. Do vậy, cần thiết phải đưa bị cáo ra xét xử và áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Xem xét tính chất mức độ vai trò phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ có ảnh hưởng đến trách nhiệm hình sự của bị cáo Hội đồng xét xử thấy rằng:

Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015 để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là đối tượng nghiện không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy đã thu giữ của bị cáo là vật chứng của vụ án.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha màu đỏ đen BKS 30Z6 – 0367, số khung 086475, số máy 086480: Qua tài liệu xác minh thể hiện chiếc xe máy trên không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng (BL51). Chị L khai xe do chị Phạm Thị L (vợ bị cáo) bỏ tiền ra mua từ năm 2016 tại cửa hàng xe cũ, chị không nhớ tên và địa chỉ của cửa hàng, khi mua không có giấy tờ mua xe, xe có giấy đăng ký xe mang Thịnh Xuân T, khi mua chị L chưa sang tên giấy tờ xe. Chị không biết bị cáo T lấy xe đi mua ma túy (BL 36-37). Anh T cũng khai chiếc xe trên anh đã bán cho một cửa hàng xe cũ vào tháng 7/2016, anh không nhớ tên và địa chỉ của cửa hàng (BL 38). Chị L đề nghị tòa án cho chị xin lại chiếc xe trên để làm phương tiện đi làm. Thấy rằng có căn cứ để trả lại chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha màu đỏ đen BKS 30Z6 – 0367, số khung 086475, số máy 086480 cho chị L là có căn cứ.

Về nguồn gốc ma túy bị thu giữ và đối tượng bán ma túy cho Mai Văn T: T khai mua của người đàn ông không quen biết tại khu vực Bệnh viện 09, địa phận xã Tân Triều, huyện Thanh Trì, ngoài lời khai của T không có tài liệu nào chứng minh nên không có cơ sở điều tra xử lý.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Mai Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Mai Văn T 15 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/5/2018.

- Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì nguyên vẹn niêm phong, mép dán có chữ ký của đối tượng Mai Văn T, cán bộ Nguyễn Văn Hiến và giám định viên Nguyễn Văn Hà.

- Trả lại chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha màu đỏ đen BKS 30Z6 – 0367, số khung 086475, số máy 086480 cho chị Phạm Thị L.

(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/9/2018 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hà Đông và Chi cục Thi hành án dân sự quận Hà Đông).

- Áp dụng Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án và lệ phí Tòa án.

Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. N¬i nhËn:

Cỡ chữ