- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Phạm Hoài P - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Phạm Hoài P phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 194 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ___________________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 152/2017/HSST Ngày: 08/11/2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 - TP. HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Triệu Luật.
Các Hội thẩm Nhân dân:
1/Bà Nguyễn Thị Thu Cúc.
2/Bà Đỗ Thị A.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa:
- Ông Nguyễn Hoài Anh - Cán bộ Tòa án nhân dân Quận 10.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 10 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:
- Bà Trần Thị Hương Lan - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 11 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10 địa chỉ: 27 đường Thành Thái, Phường 14, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai sơ thẩm vụ án Hình sự thụ lý số: 126/2017/HSST ngày 05 tháng 10 năm 2017 đối với bị cáo:
Nguyễn Phạm Hoài P - Giới tính: Nam; sinh năm: 1987 tại Thành phố Hồ Chí Minh; thường trú: đường X, Phường Y, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 6/12; con ông: Nguyễn Văn T; và bà: Phạm Thị Y; có vợ: Si Ti Sanabint A và 01 con (sinh năm 2010); tiền án: không; tiền sự: không; bị bắt giữ ngày: 22/5/2017.
(Bị cáo có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Phạm Thị Y – Sinh năm: 1957 (vắng mặt). Trú tại: đường X, Phường L, Quận T, TP.HCM.
NHẬN THẤY:
Bị cáo bị Viện Kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Khoảng 00 giờ 40 ngày 22/5/2017, tại trước nhà số 101 đường Đào Duy Từ, Phường 5, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Công an Quận 10 Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành kiểm tra hành chính và phát hiện, thu giữ từ P: 01 chiếc xe mô tô biển số 59H1-53004, 01 túi nylon để bên trái baga xe (bên trong có 01 hộp nhựa nắp màu vàng, bên ngoài có dán băng keo, bên trong hộp nhựa có chưa tinh thể rắn không màu, 01 gói nylon để bên trong cốp bình xăng xe (bên trong chưa tính thể rắn không màu), 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone, 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia và 2.200.000 đồng. Vụ việc được Công an Phường 5, Quận 10 lập hồ sơ ban đầu, sau đó chuyển đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 điều tra làm rõ.
Tại Kết luận giám định số 972/KLGĐ-H ngày 13/6/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận:
- Gói 1: Tinh thể không màu trong 01 hộp nhựa màu trắng, nắp màu vàng được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Nguyễn Phạm Hoài P và hình dấu Công an Phường 5, Quận 10 gửi đến giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 29,8627g là Methamphetamine.
- Gói 2: Tinh thể không màu trong 01 hộp gói được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Nguyễn Phạm Hoài P và hình dấu Công an Phường 5, Quận 10 gửi đến giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,2724g là Methamphetamine.
Quá trình điều tra xác định như sau:
Do cần sử dụng ma túy, nên P đã gọi điện thoại liên lạc và mua ma túy của
một đối tượng tên M (không rõ lai lịch, địa chỉ) với giá 3.000.000 đồng tại khu vực hẻm 580 đường Phạm Văn Chí, Quận 6. Sau đó P mang về để sử dụng, thì bị bắt giữ như trên.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 đã quyết định khởi tố, điều tra đối với Nguyễn Phạm Hoài P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Riêng đối tượng tên M (không xác định được lai lịch, địa chỉ), Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 tiếp tục truy xét, khi nào bắt được xử lý sau.
Đối với: 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone có số thuê bao 0961228052; 2.200.000 đồng, không liên quan đến vụ án, Công an Quận 10 giao cho bà Phạm Thị Y (là mẹ của Nguyễn Phạm Hoài P) quản lý.
Đối với 01 xe mô tô biển số 59H1-530.04, qua xác minh do bà Phạm Thị Y (là mẹ của P) đứng tên chủ sở hữu. Việc P sử dụng chiếc xe làm P tiện phạm tội bà Y không biết nên Công an Quận 10 trả lại chiếc xe trên cho bà Y.
Tại bản cáo trạng số 86/CT-VKS ngày 02 tháng 10 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành Phố Hồ Chí Minh đã truy tố: Nguyễn Phạm Hoài P về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm m khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 (được sửa đổi bổ sung năm 2009).
Tại phiên tòa hôm nay:
Bị cáo Nguyễn Phạm Hoài P đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình giống như lời khai tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh công bố bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Phạm Hoài P đúng theo nội dung bản cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, sau khi nêu lên những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo (thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải) và nhân thân của bị cáo; đã đề nghị áp dụng điểm m khoản 2, 5 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009); Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); khoản 3 Điều 7; khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Nguyễn Phạm Hoài P; xử phạt bị cáo Nguyễn Phạm Hoài P từ 06 năm 06 tháng đến 07 năm tù, đồng thời phạt bổ sung bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.
Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp khác:
Đối với: 01 gói niêm phong (bên trong có 01 gói nylon chứa tinh thể rắn không màu, bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Nguyễn Phạm Hoài P và hình dấu Công an Phường 5, Quận 10); 01 gói niêm phong (bên trong có 01 hộp nhựa màu trắng, nắp màu vàng chứa tinh thể rắn không màu, bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Nguyễn Phạm Hoài P và hình dấu Công an Phường 5, Quận 10); là vật lưu hành bất hợp pháp; vậy đề nghị áp dụng điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003; tịch thu, tiêu hủy.
Đối với: 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia (số thuê bao 0909103641, pin không hoạt động), là P tiện dùng vào việc phạm tội; vậy đề nghị áp dụng điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003; tịch thu, sung quỹ Nhà nước.
Lời nói sau cùng của bị cáo: rất hối hận về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
XÉT THẤY:
Tại Cơ quan điều tra, cũng như trước phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi của mình, qua lời khai nhận tội của bị cáo, đối chiếu với nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, bản kết luận giám định, vật chứng cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, là phù hợp với nhau, từ đó Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định: bị cáo Nguyễn Phạm Hoài P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Ma túy là mối hiểm họa cho gia đình và xã hội, nó đã lây lan và phát triển một cách nghiêm trọng, làm suy đồi và băng hoại nhân cách con người, là một trong những nguyên nhân dẫn đến các tội phạm hình sự khác; trong khi chính quyền nhân dân các cấp đang ra sức thực hiện mục tiêu 3 giảm: “Giảm ma túy, giảm mại dâm, giảm tội phạm”; nhưng bị cáo đã đi ngược lại mục tiêu chung trên, bị cáo đã có hành vi cất giữ trái phép: 29,8678g + 1,2724g = 31,1402g Methamphetamine, chiếu theo danh mục các chất ma túy và tiền chất ban hành theo Nghị định số: 82/2013/NĐ - CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ thì đó là chất ma túy ở thể rắn, qua lời khai của bị cáo thì số ma túy trên nhằm để sử dụng, nên bị cáo Nguyễn Phạm Hoài P bị truy tố và xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; ngoài ra Hội đồng xét xử cần nhận định như sau: theo hướng dẫn Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì kể từ ngày 03/7/2017 vẫn áp dụng nguyên tắc có lợi cho bị can, bị cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); như vậy căn cứ vào số lượng ma túy được thu giữ từ bị cáo là 31,1402g chất ma túy ở thể rắn mà Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm m khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 (được sửa đổi bổ sung năm 2009), nhưng theo quy định tại khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” thuộc quy định có lợi cho người phạm tội; từ đó trong quá trình xét xử, Hội đồng xét xử sẽ áp dụng và xem xét đối với bị cáo, nhằm đảm bảo quyền con người theo quy định của Hiến pháp năm 2013, cũng như nguyên tắc có lợi cho bị cáo.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Do vậy cần phải kịp thời đưa ra xử lý trước pháp luật tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, cụ thể cần phải tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để cải tạo giáo dục bị cáo, qua đó tác dụng răn đe, giáo dục đối với những người thực hiện hành vi tương tự, đồng thời đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tệ nạn tại địa P; ngoài ra còn áp dụng khoản 5 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 (được sửa đổi bổ sung năm 2009), phạt bổ sung bị cáo một số tiền để sung quỹ Nhà nước.
Tuy nhiên, xét thấy bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; vậy Hội đồng xét xử áp dụng điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 (được sửa đổi bổ sung năm 2009) giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về vật chứng:
Đối với: 01 gói niêm phong (bên trong có 01 gói nylon chứa tinh thể rắn không màu, bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Nguyễn Phạm Hoài P và hình dấu Công an Phường 5, Quận 10); 01 gói niêm phong (bên trong có 01 hộp nhựa màu trắng, nắp màu vàng chứa tinh thể rắn không màu, bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Nguyễn Phạm Hoài P và hình dấu Công an Phường 5, Quận 10); là vật lưu hành bất hợp pháp; vậy áp dụng điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003; tịch thu, tiêu hủy.
Đối với: 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia (số thuê bao 0909103641, pin không hoạt động), là P tiện dùng vào việc phạm tội; vậy áp dụng điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003; tịch thu, sung quỹ Nhà nước.
Về án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo Nguyễn Phạm Hoài P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Phạm Hoài P phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm m khoản 2, 5 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 (được sửa đổi bổ sung năm 2009); Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); khoản 3 Điều 7; khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) [điều khoản có lợi cho người phạm tội của Bộ luật hình sự năm 2015(được sửa đổi, bổ sung năm 2017)] đối với bị cáo Nguyễn Phạm Hoài P;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Phạm Hoài P 07 (Bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/5/2017.
Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Phạm Hoài P 10.000.000 (mười triệu) đồng sung quỹ Nhà nước.
Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án), cho đến khi thi hành xong các khoản tiền nêu trên, thì bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi nợ quá hạn của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
- Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, tịch thu, tiêu hủy: 01 gói niêm phong (bên trong có 01 gói nylon chứa tinh thể rắn không màu, bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Nguyễn Phạm Hoài P và hình dấu Công an Phường 5, Quận 10); 01 gói niêm phong (bên trong có 01 hộp nhựa màu trắng, nắp màu vàng chứa tinh thể rắn không màu, bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Nguyễn Phạm Hoài P và hình dấu Công an Phường 5, Quận 10).
- Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003; tịch thu, sung quỹ Nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia (số thuê bao 0909103641, pin không hoạt động).
(Tình trạng vật chứng, tài sản theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 12/9/2017 giữa Công an Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh).
- Áp dụng khoản 2 Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc:
- Bị cáo P chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình.
Thời hạn kháng cáo là 15 ngày; đối với bị cáo tính từ ngày tuyên án; đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa thì tính từ ngày được giao hoặc ngày niêm yết bản án./. Nôi nhaän:
| - Sôû Tö phaùp TP.HCM; - Cuïc Haûi quan TP.HCM; - TAND TP.HCM; - VKSND Q.10; - Coâng an Q.10, PC.53; - Chi cuïc Thueá Q.10; - Chi cuïc THADS Q.10; - Người tham gia tố tụng; - Löu VP, hoà sô. | TM. HOÄI ÑOÀNG XEÙT XÖÛ SÔ THAÅM Thaåm phaùn - Chuû toïa phieân toøa (Đã ký) Nguyễn Triệu Luật |