- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
- Tòa quyết gì? 39; Các Điều 92, 144, 147, 227, 228, 238, 266, 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 1512/2025/DS-ST Ngày: 23-9-2025 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tâm.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Đâu.
2. Ông Vương Tấn Độ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Trúc Ly - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực
9 - Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 - Thành phố
Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 30/2025/TLST-DS ngày 10 tháng 01 năm 2025 về tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 350/2025/QĐXXST-DS ngày 01 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 313/2025/QĐST-DS ngày 28 tháng 8 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S
Trụ sở: số 266-268 đường N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh
(nay là số B đường N, phường X, Thành phố Hồ Chí Minh).
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: ông Nguyễn Thành N, sinh năm:
1993. Địa chỉ liên hệ: số B đường N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là số B đường N, phường X, Thành phố Hồ Chí Minh) – Là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (Giấy ủy quyền số 6920/2024/UQ-TGĐ ngày 07/10/2024). (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
2. Bị đơn: Bà Trương Kim N1, sinh năm 1991.
Địa chỉ: A Chung cư A, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là
AK4.8.16 Chung cư A, phường A, Thành phố Hồ Chí Minh). (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên
đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (sau đây gọi tắt là S1) do người đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Thành N trình bày: ngày 17/02/2022, bà Trương Kim N1 có ký với S1 hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng TMCP S), hạn mức tín dụng là 26.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất tại thời điểm mở thẻ là 2,77%/tháng, lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn.
Trong quá trình sử dụng thẻ, bà N1 đã thực hiện các giao dịch với tổng số
tiền 51.000.000 đồng. Bà N1 đã thanh toán cho S1 tổng số tiền 38.010.000 đồng. Thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 21 của bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng.
S1 đã nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà N1 vẫn không có thiện chí trả
nợ. Do bà N1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo Điều 18 của bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng nên ngày 11/11/2023 S1 đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn theo Điều 24 của bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. S1 đã chuyển toàn bộ dư nợ tại thời điểm này là 21.489.462 đồng làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn (là 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại).
Tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 23/9/2025), bà N1 còn nợ S1 các khoản
sau: nợ gốc là 21.489.462 đồng, nợ lãi quá hạn là 20.298.760 đồng.
Để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của mình, S1 đề nghị Tòa án giải quyết buộc
bà Trương Kim N1 phải trả tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 23/9/2025 là 41.788.222 đồng, trong đó số tiền nợ gốc là 21.489.462 đồng, số tiền nợ lãi quá hạn là 20.298.760 đồng. Yêu cầu bà N1 thanh toán một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật và tiếp tục thực hiện việc trả lãi phát sinh từ ngày 24/9/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng.
Bị đơn – bà Trương Kim N1 vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án và
không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Thành phố Hồ Chí Minh phát
biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán được phân công thụ lý giải
quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự như: thụ lý và giải quyết vụ án đúng thẩm quyền; xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp; tiến hành xác minh thu thập chứng cứ. Thời hạn chuẩn bị xét xử chưa đảm bảo. Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ
vụ án thì thấy rằng các bên có xác lập giao dịch tín dụng theo đúng quy định pháp luật. Xét việc bà N1 chỉ thực hiện một phần nghĩa vụ với S1 là chưa thực hiện đúng các thỏa thuận giữa các bên, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của S1. Do đó, yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh
tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Tranh chấp giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần S và bà Trương Kim
N1 là tranh chấp hợp đồng tín dụng. Theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 17/02/2022 thể hiện bà Trương Kim N1 có địa chỉ cư trú tại phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường A, Thành phố Hồ Chí Minh). Tại đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của bị đơn theo địa chỉ được ghi trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng, bị đơn thay đổi địa chỉ nơi cư trú gắn với việc thực hiện nghĩa vụ mà không thông báo cho người khởi kiện biết về nơi cư trú mới. Nên căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 4 Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Thành phố Hồ Chí Minh.
Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn được Tòa án triệu
tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, không thông báo lý do cho Tòa án, nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
Ngân hàng Thương mại Cổ phần S là tổ chức tín dụng được thành lập và
hoạt động theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật, được phép cấp tín dụng. Tại thời điểm ký hợp đồng, bà N1 đã cung cấp các giấy tờ tùy thân, ký tên vào hợp đồng từ đó thể hiện việc ký kết hợp đồng dựa trên cơ sở tự nguyện và người ký kết hợp đồng có đầy đủ năng lực hành vi dân sự. Do đó hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa các bên có hiệu lực.
Căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, bản Điều khoản và
điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng TMCP S do bà Trương Kim N1 ký và được S1 phê duyệt ngày 17/02/2022, các tóm tắt sao kê, có cơ sở xác định S1 đã cấp cho bà N1 thẻ tín dụng với hạn mức là 26.000.000 đồng. Bà N1 đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền 51.000.000 đồng. Bà N1 đã thanh toán cho S1 số tiền (gốc, lãi, phí) tổng cộng 38.010.000 đồng. Thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 21 của bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng.
Bị đơn bà Trương Kim N1 vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án và
không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh số tiền đã trả, số tiền còn nợ S1. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ và lời trình bày, thừa nhận của nguyên đơn để làm cơ sở giải quyết vụ án.
Xét: bà N1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên S1 đã chuyển toàn bộ dư nợ
sang nợ quá hạn và khởi kiện là có căn cứ theo thỏa thuận giữa hai bên và phù hợp với khoản 1 Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010.
Về yêu cầu trả nợ gốc: Xét bà Trương Kim N1 đã vi phạm nghĩa vụ trả
nợ đã được các bên thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng TMCP S. Do đó, S1 yêu cầu bà N1 có nghĩa vụ trả nợ gốc với số tiền 21.489.462 đồng là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về yêu cầu trả tiền lãi quá hạn: Số tiền lãi quá hạn S1 yêu cầu bà N1 trả
được tính dựa vào sự thỏa thuận giữa các bên tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng TMCP S; thỏa thuận này phù hợp với quy định tại Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010. Yêu cầu trả tiền lãi được tính theo đúng quy định tại Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N2 và Điều 7, Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Do đó, yêu cầu của S1 về việc buộc bà N1 có nghĩa vụ trả số tiền nợ lãi quá hạn tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 23/9/2025) với số tiền 20.298.760 đồng là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Xét thấy bà Trương Kim N1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận,
ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của S1. Vì vậy, S1 yêu cầu Tòa án buộc bà N1 thanh toán toàn bộ số tiền còn nợ một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Xét yêu cầu của S1 về việc yêu cầu bà N1 tiếp tục chịu lãi phát sinh từ
ngày 24/9/2025 theo mức lãi suất thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng TMCP S, Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu này phù hợp với thỏa thuận của các bên tại hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng, nên có cơ sở để chấp nhận.
Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Thành
phố Hồ Chí Minh là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Về án phí:
- Bà Trương Kim N1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp
luật.
- Ngân hàng Thương mại Cổ phần S không phải chịu án phí và được trả lại
tiền tạm ứng án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều
39; Các Điều 92, 144, 147, 227, 228, 238, 266, 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 4 Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15;
- Căn cứ vào khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15;
- Căn cứ vào các Điều 91, 95 và 98 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;
- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.
Buộc bà Trương Kim N1 trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền
nợ tính đến ngày 23/9/2025 với tổng số tiền là 41.788.222 (bốn mươi mốt triệu, bảy trăm tám mươi tám nghìn, hai trăm hai mươi hai) đồng, trong đó: nợ gốc là 21.489.462 (hai mươi mốt triệu, bốn trăm tám mươi chín nghìn, bốn trăm sáu mươi hai) đồng, nợ lãi quá hạn là 20.298.760 (hai mươi triệu, hai trăm chín mươi tám nghìn, bảy trăm sáu mươi) đồng, phát sinh từ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 17/02/2022 và bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng TMCP S ký giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần S và bà Trương Kim N1.
Trả một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong,
bà Trương Kim N1 còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 17/02/2022 và bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng TMCP S ký giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần S và bà Trương Kim N1.
2. Về án phí:
- Bà Trương Kim N1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 2.089.411 (hai triệu,
không trăm tám mươi chín nghìn, bốn trăm mười một) đồng.
- Ngân hàng Thương mại Cổ phần S được trả lại số tiền tạm ứng án phí đã
nộp là 774.997 (bảy trăm bảy mươi bốn nghìn, chín trăm chín mươi bảy) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0048728 ngày 20/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 9 - Thành phố Hồ Chí Minh).
3. Các quyền và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự được thực hiện tại
cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
4. Về quyền kháng cáo:
Đương sự không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15
ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND khu vực 9-TP.Hồ Chí Minh; - THADS TP.Hồ Chí Minh; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký và đóng dấu) Nguyễn Minh Tâm |