- Tranh chấp gì? "Lê Phước T"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Phước T, sinh ngày 24/9/2001.
- Căn cứ chính? Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 151/QĐ - TA | Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 01 tháng 06 năm 2026 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần tiến hành phiên họp gồm có: 1. Thẩm phán:
Bà Phạm Thị Thu N 2. Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thanh Tâm
Ngày 01 tháng 06 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 13, thành phố Hồ Chí Minh và Cơ sở cai nghiện ma tuý số F, thành phố Hồ Chí Minh tiến hành phiên họp trực tuyến xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 124/QĐ-TA ngày 26 tháng 05 năm 2026 đối với:
Họ và tên: Lê Phước T, sinh ngày 24/9/2001.
Giới tính: Nam;
Căn cước công dân số: 077201004460, nơi cấp: Bộ C
Hộ khẩu thường trú: Ấp L, xã L, Tp ..
Chỗ ở: Không có nơi cư trú ổn định.
Dân tộc: Kinh.
Tôn giáo: Không
Nghề nghiệp: Lao động tự do.
Trình độ văn hóa: 07/12.
Tiền án: có.
Tiền sự: Không.
Con ông Lê Văn T1, sinh năm: 1976 và bà Tống Thị Kim L, sinh năm: 1963. Đối tượng đang được quản lý tại Cơ sở cai nghiện ma tuý số F, thành phố Hồ Chí Minh. Phiên họp có mặt người bị đề nghị.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Hồ T2 - Chức vụ: Công an xã L, thành phố Hồ Chí Minh.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 13, thành phố Hồ Chí Minh: Ông Nguyễn Tùng Lâm - Chức vụ: Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY
* Tại Văn bản về việc đề nghị xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 13/ĐN-CNBB ngày 07/03/2026 và tại phiên họp xét đề nghị, Công an xã L, thành phố Hồ Chí Minh có ý kiến như sau:
Ngày 02/03/2026, căn cứ vào kết quả xác định tình trạng nghiện của Trạm Y tế xã L, Công an xã L đã có văn bản thông báo kết quả xác định tình trạng của đối tượng Lê Phước T là nghiện ma tuý (Methamphetamine).
Qua xác minh, đối tượng Lê Phước T không có nơi cư trú ổn định và không thực tế sinh sống tại nơi đăng ký thường trú. Đối tượng Lê Phước T không đồng ý cai nghiện tự nguyện tại cơ sở cai nghiện công lập, được quy định tại Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật phòng, chống ma tuý.
Do đó, Công an xã L đề nghị Tòa án ra quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với đối tượng Lê Phước T, thời gian đề nghị là từ 18 tháng đến 20 tháng.
* Người bị đề nghị trình bày tại biên bản ghi lời khai và tại phiên họp như sau:
Đối tượng Lê Phước T là người nghiện ma túy (Methamphetamine), bắt đầu sử dụng ma tuý từ năm 2021 đến nay dẫn đến bị nghiện. Tần suất sử dụng là nhiều lần.
Vào ngày 22/06/2026, A dùng zalo để gọi vào zalo T rủ T đến quán C1 thuộc khu phố T, phường T, TP . để hút ma túy. T hút 3 hơi, ngồi chơi với A 20 phút rồi T đi giao hàng cho khách. Ngày 25/02/2026, T đi giao hàng shipper thì bị công an xã L tiến hành kiểm tra hành chính, test nhanh ma tuý phát hiện T dương tính với chất ma tuý nên mời về trụ sở Công an làm việc, xét nghiệm chất ma tuý trong cơ thể cho kết quả dương tính với chất ma tuý.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 13 trình bày:
- Về trình tự thủ tục: Tòa án nhân dân Khu vực 13 đã thụ lý, thông báo thụ lý, Quyết định mở phiên họp thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 3, 8, 9, 10, 12, 13, 17 của Pháp lệnh số: 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 về trình tự thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Về trình tự, thủ tục tiến hành phiên họp: Thẩm phán đã thực hiện đúng thành phần phiên họp, trình tự, thủ tục tiến hành phiên họp theo quy định tại các Điều 18, 19, 20, 21 của Pháp lệnh số: 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 về trình tự thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
- Về nội dung vụ án: Căn cứ vào hồ sơ vụ việc, lời trình bày, ý kiến của cơ quan đề nghị, người bị đề nghị và những người tham gia tố tụng khác đối chiếu với quy định pháp luật, Viện kiển sát Khu vực 13 đề nghị Tòa án chấp nhận đề nghị của Công an xã L, đưa đối tượng Lê Phước T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc một thời gian phù hợp.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên họp; căn cứ vào ý kiến của kiểm sát viên, đại diện cơ quan đề nghị và người đề nghị.
XÉT THẤY:
Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đề nghị xét thấy việc lập và chuyển hồ sơ đề nghị đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 103, 104 Luật xử lý vi phạm hành chính (Được sửa đổi, bổ sung năm 2020).
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ đề nghị, ý kiến của đại diện Công an xã L, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 13, Tòa án nhân dân Khu vực 13 nhận định: Ngày 26/02/2025 đối tượng T bị Công an xã L phát hiện lập biên bản vi phạm hành chính số 13/BB-VPHC về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; Căn cứ vào kết quả Trạm y tế xã L cung cấp, Công an xã L đã có văn bản thông báo kết quả xác định tình trạng của đối tượng Lê Phước T là nghiện ma tuý (Methamphetamine), từ đó xác định T là đối tượng nghiện ma túy.
Xét thấy, đối tượng T là người nghiện ma túy nhưng không đăng ký, không thực hiện việc cai nghiện tự nguyện. Đối tượng T là một công dân trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hành vi, biết việc sử dụng trái phép chất ma túy bị pháp luật cấm nhưng vẫn vi phạm.
Từ những căn cứ trên thấy phù hợp với Điều 95, khoản 1 Điều 96 của Luật xử lý vi phạm hành chính (Được sửa đổi, bổ sung năm 2020) và Pháp lệnh số: 03/2022/ UBTVQH15 ngày 13/12/2022 về trình tự thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân nên đủ căn cứ để chấp nhận đề nghị của Công an xã L về việc áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Phước T.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Các điều 3, 6, 9, 10, 95, 96, 103, 104, 105, 110 và 131 Luật xử lý vi phạm hành chính (được sửa đổi, bổ sung năm 2020);
Điều 32 Luật phòng chống ma túy.
Điều 18, 20, 21, 23, 24 Pháp lệnh số: 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội;
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Phước T, sinh ngày 24/9/2001. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp L, xã L, Tp.Hồ Chí Minh. Nơi ở: Không nơi ở ổn định.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại quyết định của Tòa án trong thời hạn 05 (Năm) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định của Tòa án trong thời hạn là 05 (Năm) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an xã L và Cơ sở cai nghiện ma tuý số F, thành phố Hồ Chí Minh. * Nơi nhận:
- VKSND Khu vực 13, TP HCM;
| - UBND xã Long Điền; - Công an xã Long Điền; - Cơ sở cai nghiện ma tuý số 6, TP HCM; - Lê Phước Trung; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN (Đã ký) Phạm Thị Thu Nga |