- Tranh chấp gì? án hình sự — "Sơn Huỳnh M phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 26…"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. VŨNG TÀU TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU ———————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 151/2023/HSST Ngày 13-06-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU
TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Thanh Hảo
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Văn Trường
Ông Đặng Song Hoàn
- Thư ký phiên tòa: Bà Đậu Thị Hiền – Thư ký của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Xuân Linh- Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 06 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 149/2023/HSST ngày 22 tháng 05 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 156/2023/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 05 năm 2023, đối với bị cáo:
Sơn Huỳnh M, sinh ngày 19-07-2001 tại Cà Mau; giới tính: Nam; Nơi thường trú: ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau; nơi ở: Khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương; Nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hoá: 8/12; dân tộc: Khmer; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Sơn G và bà Trần Thị P; Tiền án -Tiền sự: không; Bị bắt ngày 08 tháng 12 năm 2022, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố V, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (bị cáo có mặt).
Bị hại: Nguyễn Thị H, sinh ngày 08-06-2004 (chết). Người đại diện hợp pháp: Bà Võ Thị C, sinh 1979 và ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1982– Địa chỉ: Số B ấp B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương (là cha mẹ bị hại - có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Trần Đức H1, sinh năm 1971 - Địa chỉ: Số B đường N, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Công ty TNHH T2– Địa chỉ trụ sở: Số D đường B, phường N, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Người đại diện ủy quyền: Ông Đỗ Phú T1, sinh năm 1972 (có mặt).
- Bà Trần Thị P, sinh năm 1970 – Địa chỉ: Khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 06 giờ ngày 01-9-2022, Sơn Huỳnh M ở tại khu phố B, A, D, Bình D điều khiển xe mô tô hiệu Honda Winner biển số 69F1-712.02 chở chị Nguyễn Thị H lưu thông trên làn đường dành cho xe mô tô của đường V theo hướng từ Bà Rịa về Vũng Tàu. Khi đến khu vực trước địa chỉ số nhà A V, phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; M đánh lái né sang trái để tránh một chiếc mô tô (chưa xác định được biển số, người điều khiển) nên đã đi vào làn đường dành cho xe ô tô, đồng thời do không làm chủ được tay lái và tốc độ khiến M và chị H té ngã xuống đường trên làn đường ô tô. Ngay lúc này ông Trần Đức H1 điều khiển xe ô tô biển số 72B- 019.63 điều khiển lưu thông cùng chiều phía sau trên làn đường ô tô chạy tới cán qua người chị H. Hậu quả chị H chết cùng ngày tại Bệnh viện V.
Bản kết luận pháp y về tử thi số 392/KL-KTHS-PY ngày 30-09-2022 của Phòng K công an tỉnh B, kết luận đối với chị Nguyễn Thị H như sau:
- 1. Dấu vết chính qua giám định: Xây sát da ngực trái khoản liên sườn 3-4-5 đường giữa nách, kích thước 9cm x 8.5 cm. Vết mổ lâm sàng giữa bụng trên và dưới rốn dài 21 cm đã khâu. Dập rải rác hai phổi. Khoang bụng chứa khoảng 500ml máu loãng không đông. Nứt gan phải. Dập-rách ruột, xuất huyết nội.
2. Nguyên nhân chết: Nguyễn Thị H chết do đa chấn thương: Dập phổi, nứt gan, dập rách mạc treo, dập ruột, xuất huyết nội.
3. Kết luận khác: Vật tác động gây chấn thương là do vật tày, diện tiếp xúc rộng, tác động trực tiếp vào vùng ngực-bụng cơ thể nạn nhân.
- Trong máu tử thi Nguyễn Thị H không tìm thấy Ethanol, không tìm thấy ma túy.
Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định:
- Hiện trường xảy ra tai nạn là đoạn đường bằng phẳng, thẳng, được trải nhựa trước số nhà A đường V, phường A, thành phố V; dải cách cứng phân chia đường thành hai chiều xe chạy. Mỗi chiều xe chạy có vạch kẻ đường sơn màu trắng đứt quãng phân chia đường thành ba làn xe chạy. Độ rộng nửa mặt đường là 10 mét 50.
- Mép đường làm chuẩn: Chọn là 5 mét, cách đầu vị trí vết cày xe mô tô biển số 69F1-712.02 là 1 mét, cách tâm trục bánh sau phía bên phải xe ô tô biển số 72B - 019 63 là 2 mét 70, cách gác để chân phía trước bên trái xe mô tô biển số 69F1-712.02 là 13 mét.
Các dấu vết để lại hiện trường như sau:
- Không xác định được dấu vết va chạm giữa xe ô tô biển số 72B-019.63 với xe mô tô biển số 69FI-712.02.
- Không xác định được dấu vết va chạm giữa xe ô tô biển số 69F1-712.02 với phương tiện khác.
Qua dấu vết tại hiện trường trên các phương tiện, điểm va chạm được xác định: Khu vực điểm va chạm nằm ở khu vực trước số nhà A đường V, phường A, thành phố V; cách điểm mốc cột điện trên vỉa hè là 15 mét 60, cách mép đường làm chuẩn là 5 mét, cách đầu vị trí vết cày xe mô tô biển số 69F1-712.02 là 1 mét, cách tâm trục bánh sau phía bên phải xe ô tô biển số 72B - 019.63 là 2 mét 70, cách gác để chân phía trước bên trái xe mô tô biển số 69F1-712.02 là 13 mét.
Nguyên nhân của vụ tai nạn giao thông là do Sơn Huỳnh M có hành vi điều khiển xe mô tô đi không đúng làn đường theo quy định, không làm chủ tay lái, tốc độ khiến chị H ngồi sau xe của M bị té ngã xuống phần đường dành cho xe ô tô và bị ô tô của ông Trần Đức H1 điều khiển trực tiếp cán qua người làm chị H tử vong. Hành vi của M đã vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật Giao thông đường bộ: “Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định và phải chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ” và vi phạm khoản 23 Điều 8 Luật Giao thông dường bộ: “Hành vi vi phạm quy tắc giao thông đường bộ, hành vi khác gây nguy hiểm cho người và phương tiện tham gia giao thông đường bộ”.
Cơ quan điều tra thu giữ 01 đoạn video dài 15 giây ghi lại hình ảnh một phần nội dung vụ việc trên, video được lưu trữ trong 01 đĩa CD.
Bản cáo trạng số 86/CT-VKSTPVT ngày 22-03-2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu đã truy tố Sơn Huỳnh Mẫn về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân thành phố V đã trả hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu để điều tra bổ sung làm rõ chứng cứ chứng minh hành vi Trần Đức H1 thực hiện có vi phạm quy tắc giao thông đường bộ, thiếu quan sát, không đảm bảo khoảng cách an toàn để kịp thời giảm tốc độ, gây nguy hiểm cho người tham gia giao thông đường bộ theo quy định tại khoản 23 Điều 8 Luật giao thông đường bộ. Công văn số 126/CV-VKS ngày 18-05-2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu xác định: Trần Đức H1 điều khiển xe đi đúng làn đường, đúng tốc độ, xe va chạm với chị H dẫn đến việc chị H tử vong là sự kiện bất ngờ, nên không có căn cứ xử lý anh H1 trách nhiệm hình sự; giữ nguyên quan điểm đã truy tố theo nội dung Cáo trạng số 86/CT-VKSTPVT ngày 22-03-2023; đề nghị Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo mức án từ 12 tháng đến 15 tháng tù giam; đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng và ý kiến luận tội của Viện kiểm sát, công nhận Viện kiểm sát truy tố đúng tội danh. Bị cáo không có ý kiến gì tự bào chữa cho hành vi phạm tội của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần mức án.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra thành phố V và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo xác định vào khoảng 08 giờ 50 phút 35 giây ngày 01-09-2022; tại khu vực trước số nhà A đường V, phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; bị cáo điều khiển xe mô tô biển số 69F1 – 712.02 phía sau chở bị hại Nguyễn Thị H. Do bị cáo không làm chủ tay lái, tốc độ và giữ khoảng cách an toàn, đi không đúng làn đường đã xảy ra va quệt vào đuôi một xe máy phía trước khiến xe và người bị té ngã, bị hại ngã xuống làn đường dành cho ô tô, sau đó bị xe ô tô biển số 72B - 019.63 do ông Trần Đức H1 điều khiển lưu thông cùng chiều phía sau cán qua người dẫn đến hậu quả bị hại tử vong.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện, kết luận giám định pháp y, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác đã được các cơ quan tiến hành tố tụng thu thập trong hồ sơ vụ án và thẩm tra lại tại phiên tòa.
Xét nguyên nhân lỗi của vụ tai nạn là do bị cáo điều khiển xe lưu thông trên đường không tuân thủ triệt để các quy tắc về an toàn giao thông đường bộ: Điều khiển xe mô tô không đúng làn đường theo quy định, không làm chủ tay lái, tốc độ và khoảng cách. Hành vi bị cáo thực hiện đã xâm phạm nghiêm trọng đến tính mạng của người bị hại, đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
. Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội bị cáo đã gây ra là rất nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo đã được cấp giấy phép lái nhưng khi sử dụng xe mô tô là nguồn nguy hiểm cao độ lại không tuân thủ đúng quy định pháp luật về giao thông đường bộ, gây hậu quả rất nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Mặc dù bị cáo không mong muốn hậu quả xảy ra nhưng hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến tính mạng của người khác, gây nên nỗi đau thương vô hạn cho gia đình người bị hại. Sau khi vụ việc xảy ra, bị cáo chưa bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại. Vì vậy cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm theo quy định của pháp luật, nhằm giáo dục cải tạo riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Người đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
. Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:
- Người đại diện hợp pháp của người bị hại xác định Công ty T2 đã hỗ trợ gia đình khoản tiền 25.000.000 đồng; không yêu cầu bị cáo hay các đương sự phải bồi thường thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Công ty TNHH T2 xác định đã nhận lại xe ô tô biển số 72B-01963, không yêu cầu gì thêm về phần trách nhiệm dân sự, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Bà Trần Thị P (mẹ bị cáo) xác định đã nhận lại xe mô tô biển số 69F1-712.02, không yêu cầu gì thêm về phần trách nhiệm dân sự, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về án phí : Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Sơn Huỳnh M phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
2. Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, khoản 1 Điều 50 Bộ luật hình sự; Xử phạt Sơn Huỳnh M 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày ngày 08 tháng 12 năm 2022.
3. Án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; - VKSND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; - Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu ( PV06); - Sở Tư pháp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; - VKSND TP. Vũng Tàu; - Công an TP. Vũng Tàu; - Thi hành án dân sự TP. Vũng Tàu; - Nhà tạm giữ Công an TP. Vũng Tàu; - Ủy ban nhân dân cấp xã nơi bị cáo cư trú; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Thị Thanh Hảo |