vanban.org

Bản án 151/2023/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Bắc Giang Tuyên án 11/09/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 11/09/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Mạnh H. Sửa bản án hình sự sơ thẩm.

Về án phí: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án bị cáo Nguyễn Mạnh H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Các quyết định khác của bản án sơ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Mạnh H phạm tội " Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều…"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Mạnh H. Sửa bản án hình sự sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:151/2023/HSPT
Ngày: 11/9/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hải Vinh;

Các thẩm phán: Ông Ong Thân Thắng

Ông Hà Văn Nâu

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Vũ Thị Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện VKSND tỉnh Bắc giang tham gia phiên toà: Ông Hoàng Tùng-Kiểm sát viên.

Trong ngày 11/9/2023 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 216/2023/TLPT-HS ngày 19/7/2023 đối với bị cáo Nguyễn Mạnh H do có kháng cáo của bị cáo H đối với bản án hình sự sơ thẩm số 76/2023/HS-ST ngày 12/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Bị cáo có kháng cáo: Họ và tên: Nguyễn Mạnh H, Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam;

Sinh năm 1978 tại huyện L, tỉnh Bắc Giang;

Sinh, trú quán: Thôn C, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang;

Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không.

Nghề nghiệp: Lái xe;

Trình độ văn hoá: Lớp 12/12; Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không.

Bố đẻ: Nguyễn Quang D, sinh năm 1942 (đã chết);

Mẹ đẻ: Trần Thị P, sinh năm 1944;

Vợ: Nguyễn Thị H1, sinh năm 1978 (đã ly hôn);

Con: Có 02 (hai) con, lớn sinh năm 2001, nhỏ sinh năm 2011;

Anh, chị, em: không có anh chị em ruột, bị cáo là con duy nhất;

Nhân thân:Ngày 02/12/2017 Nguyễn Mạnh H bị Chủ tịch UBND xã Q, huyện L áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phương trong thời hạn 03 tháng.

Tiền sự: Không.

Tiền án: Có 02 tiền án.

Tại Bản án số 67/2018/HSST ngày 29/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Bắc Giang tuyên phạt Nguyễn Mạnh H 27 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" và "Tàng trữ trái phép chất ma túy", buộc bồi thường số tiền 16.650.000 đồng, phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 832.500 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Ngày 22/5/2020 H đã chấp hành xong hình phạt tù, ngày 08/4/2019 H chấp hành xong tiền án phí hình sự và dân sự, bồi thường xong số tiền 16.650.000 đồng.

Tại Bản án số 35/2021/HSST ngày 27/04/2021 của Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Bắc Giang tuyên phạt Nguyễn Mạnh H 08 (tám) tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" với tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự "Tái phạm", phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Ngày 01/10/2021 H chấp hành xong hình phạt tù, tháng 7/2021 H đã chấp hành xong tiền án phí. Tính đến thời điểm phạm tội này, H chưa được xóa án tích.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 03/01/2023. Hiện đang tại ngoại ở nơi cư trú (có mặt tại phiên toà).

Trong vụ án còn có đại diện hợp pháp cho bị hại, người quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng nhưng không có kháng cáo và không liên quan đến kháng cáo Tòa án cấp phúc thẩm không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 04 giờ 00 phút, ngày 09/11/2022, Nguyễn Mạnh H, sinh năm 1978, trú tại thôn C, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang là nhân viên lái xe của Công ty Cổ phần Vận tải và Du lịch H, điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Ford Transit, màu sơn đỏ, biển kiểm soát 29B-150.36 chở theo khoảng 10 (mười) hành khách trên xe, đi theo hướng từ thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang đi thành phố Hà Nội. Đến khoảng 04 giờ 10 phút cùng ngày, khi đi đến Km38+600, đường Quốc lộ 31 thuộc địa phận thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang, H quan sát thấy có xe máy điện, nhãn hiệu 133Splus, màu sơn đen, không mang biển kiểm soát, do chị Cao Thị T, sinh năm 1979, trú tại tổ dân phố L, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang điều khiển đi cùng chiều phía trước, cách xe của H khoảng 60m. Lúc này chị T không bật đèn xi nhan và chuyển hướng, rẽ sang bên trái đường, theo chiều đi của H và chị T. Thấy vậy H đạp phanh, bấm còi, đồng thời điều khiển xe ô tô đi sang phần đường bên trái theo chiều đi của H và chị T để tránh va chạm nhưng xe không dừng lại được ngay, dẫn tới va chạm với xe máy điện do chị T điều khiển, xe ô tô đã đẩy xe máy điện và chị T về phía trước khoảng 10 mét thì xe máy điện và chị T văng ra đường. Hậu quả chị T tử vong tại chỗ, hai phương tiện bị hư hỏng.

Cùng ngày 09/11/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành khám nghiệm hiện trường xác định: Vị trí xảy ra va chạm tại Km38+600, Quốc lộ 31, thuộc địa phận thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Mặt đường nhựa trải phẳng, thẳng, mặt đường rộng 06m. Lấy mép đường nhựa bên phải theo hướng đi từ huyện S đến huyện L làm mép đường chuẩn và là hướng khám nghiệm; lấy cột đèn đường trên lề đường phải, trước cửa gia đình Q làm mốc chuẩn, cách mép chuẩn 640cm. Tại hiện trường: Vết đôi, song song với nhau, mài trượt mặt đường màu đen dạng vết phanh đều dài 56m90, điểm đầu vết bên phải cách mép chuẩn 280cm, cách mốc chuẩn 920cm, điểm cuối hai vết là vị trí tiếp giáp giữa lốp sau xe ô tô và mặt đường; Vết cày xước mặt đường đứt đoạn, điểm đầu vết nằm trên phần đường bên trái, cách mốc chuẩn 34m, cách mép chuẩn 352cm, điểm cuối là vị trí tiếp giáp giữa chân chống xe máy điện và lề đường đất bên phải, cách mép chuẩn 85cm, cách đầu trục sau phải xe ô tô 485cm; Xe máy điện màu đen, không biển kiểm soát, đổ nghiêng trái, nằm hoàn toàn trên lề đất bên phải, đầu xe hướng lề đường phải, đuôi xe hướng chéo ra lòng đường; Xe ô tô màu đỏ, nhãn hiệu Ford Transit, loại xe 16 chỗ, biển kiểm soát: 29B-150.36 đỗ trên phần đường bên trái, đầu trục trước phải cách mép chuẩn 410cm, đầu trục sau phải cách mép chuẩn 400cm; Tử thi là nữ giới, nằm ngửa trên phần đường bên phải, đầu tử thi hướng mép chuẩn, cách mép chuẩn 135cm, cách trục trước phải xe ô tô 270cm, chân hướng lòng đường, gót chân trái cách mép chuẩn 320cm, cách trục trước phải xe ô tô 85cm; Vết máu phía dưới đầu nạn nhân, kích thước (100x40)cm. Quá trình khám nghiệm hiện trường thu giữ 01 (một) xe ô tô và 01 (một) xe máy điện có đặc điểm nêu trên và mẫu chất màu nâu đỏ nghi là máu, được niêm phong theo quy định vào phong bì có ký hiệu “MAUHT”.

Ngày 09/11/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành thu giữ 01 (một) đoạn video được trích xuất từ camera an ninh của gia đình ông Nguyễn Thành Q; Thu giữ của Nguyễn Mạnh H: 01 (một) Giấy phép lái xe ô tô hạng E mang tên Nguyễn Mạnh H; 01 (một) bản sao Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô mang tên Công ty Cổ phần Vận tải và Du lịch H; 01 (một) bản sao Giấy chứng nhận kiểm định của xe mang biển kiểm soát 29B-150.36; 01 (một) bản sao Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc xe ô tô.

Cùng ngày 09/11/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở của Nguyễn Mạnh H, kết quả: 0,000mg/L.

Ngày 09/11/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành khám nghiệm tử thi chị Cao Thị T. Kết quả khám nghiệm tử thi xác định: Vùng trán có diện xây xát da kích thước (9x3,5)cm; Vùng má trái có diện xây xát da kích thước (9,5x4)cm; Mặt trước đùi phải có diện xây xát da, bầm tím kích thước (5,5x3,5)cm; Mặt trước gối phải diện xây xát da kích thước (4x3)cm; Mặt trước ngoài gối trái có diện xây xát da kích thước (3x2,5)cm; Mặt sau ngoài dưới 1/3 cẳng tay, cổ tay trái có diện xây xát da bầm tím kích thước (12x3)cm; Vùng thắt lưng mông có diện xây xát da bầm tím kích thước (24x12)cm; Vùng đỉnh chẩm có diện sưng nề kích thước (15x11)cm, trên diện này tại vị trí vùng chẩm có diện rách da, bờ mép không gọn, kích thước (4x2,5)cm, bầm tụ máu, tổ chức dưới da đầu, đường vỡ xương hộp sọ vùng chẩm phần đo được dài 2,5cm; Gãy đốt sống cổ C3, C4.

Cùng ngày 09/11/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L ra quyết định trưng cầu giám định nguyên nhân chết của chị Cao Thị T. Tại bản Kết luận giám định pháp y tử thi số 2098 ngày 17/11/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang kết luận: Nguyên nhân chết của Cao Thị T do đa chấn thương: Chấn thương hộp sọ não; gãy đốt sống cổ C3, C4. Quá trình khám nghiệm thu giữ mẫu máu từ tử thi, niêm phong theo quy định vào phong bì có ký hiệu “Máu 1”, “Máu 2”, “Máu 3”.

Ngày 11/11/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ra Quyết định trưng cầu giám định nhóm máu và nồng độ cồn, chất ma túy trong máu của chị Cao Thị T. Tại bản Kết luận giám định số 7699 ngày 18/11/2022 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận: Không tìm thấy Ethanol (cồn) trong mẫu máu của Cao Thị T; Tại bản Kết luận giám định số 7711 ngày 18/11/2022 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận: Không tìm thấy chất ma túy và các sản phẩm chuyển hóa của chất ma túy trong mẫu máu của Cao Thị T; Tại bản Kết luận giám định số 2207 ngày 01/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang kết luận: Mẫu trong phong bì ký hiệu “MAUHT” gửi giám định có máu người, thuộc nhóm máu B; Mẫu máu của Cao Thị T thuộc nhóm máu B.

Ngày 21/11/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành khám nghiệm khám nghiệm phương tiện.

Ngày 09/12/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 385 về chiều hướng, vị trí va chạm, cơ chế hình thành dấu vết, tốc độ phương tiện trong vụ tai nạn. Tại bản Kết luận giám định số 2428 ngày 28/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang kết luận:

- Dấu vết lõm, vỡ, trượt xước mất sơn, nhựa, hướng từ trước ra sau ở mặt ngoài bên phải ba đờ sốc trước của xe ô tô biển kiểm soát 29B-150.36 (ảnh 7, 9 bản ảnh khám nghiệm phương tiện) phù hợp với dấu vết chùn cong kim loại, bám dính chất màu đỏ (dạng sơn) hướng từ sau ra trước ở mặt trên chắn bùn bánh sau và giảm sóc sau bên phải của xe máy điện màu đen, không biển kiểm soát (ảnh 19, 20, 21 bản ảnh khám phương tiện). Dấu vết vỡ, trượt xước mất sơn, nhựa, bám dính gỉ sét, hướng từ trước ra sau ở bên phải lưới tản nhiệt trước của xe ô tô biển kiểm soát 29B-150.36 (ảnh 8 bản ảnh khám nghiệm phương tiện) phù hợp với dấu vết trượt xước sơn, nhựa, bám dính chất màu trắng dạng sơn ở mặt dưới tay xách của xe máy điện màu đen, không biển kiểm soát (ảnh 18 bản ảnh khám nghiệm phương tiện). Dấu vết lõm, trượt xước kim loại, in hằn các đường song song dạng vân vải, hướng từ trước ra sau ở mặt trước bên phải nắp ca pô trước của xe ô tô biển kiểm soát 29B-150.36 (ảnh 5 bản ảnh khám nghiệm phương tiện) được hình thành do va chạm với vật tày có bề mặt là vải sợi (như cơ thể người mặc quần áo) tạo nên.

- Dấu vết cày xước mặt đường ký hiệu số 2 phù hợp với quá trình sau va chạm, xe máy điện màu đen không biển kiểm soát đổ nghiêng trái, rẽ trượt trên mặt đường tạo nên.

- Vị trí va chạm giữa ô tô biển kiểm soát 29B-150.36 với xe máy điện màu đen không biển kiểm soát trên mặt đường, tại trước điểm đầu dấu vết cày xước ký hiệu số 2, thuộc phần đường bên trái theo hướng xã S đi thành phố B.

- Căn cứ chiều hướng của các dấu vết va chạm trên hai phương tiện và dấu vết trên hiện trường, xác định tại thời điểm xảy ra tai nạn xe ô tô biển kiểm soát 29B-150.36 chuyển động thẳng hướng xã S đi thành phố B, xe máy điện màu đen, không biển kiểm soát ở phía trước cùng chiều.

- Không xác định được tốc độ của hai phương tiện tại thời điểm xảy ra va chạm qua dấu vết cơ học.

Ngày 28/11/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ra Yêu cầu định giá tài sản số 181, 182 đối với thiệt hại trên hai phương tiện. Tại bản Kết luận định giá tài sản số 177 và 178 cùng ngày 02/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L kết luận: Thiệt hại của xe ô tô biển kiểm soát 29B-150.36 là 9.400.000 đồng; thiệt hại của xe máy điện không biển kiểm soát là 2.580.000 đồng.

Về nguồn gốc hai phương tiện: Xe ô tô biển kiểm soát 29B-150.36 thuộc sở hữu của Công ty Cổ phần Vận tải và Du lịch Hoa T do bà Trịnh Kim H2, sinh năm 1965, trú tại T, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội làm giám đốc, giao cho Nguyễn Mạnh H điều khiển để chở khách; Xe máy điện thuộc sở hữu của gia đình chị Cao Thị T, do chị T mua cũ và đưa vào sử dụng từ năm 2018 với giá 6.000.000 đồng, xe không có giấy tờ gì. Hai phương tiện trên không có trong cơ sở dữ liệu xe vật chứng, theo cơ sở dữ liệu lưu trữ tại Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an tính đến ngày 12/12/2022.

Ngày 19/11/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L tiến hành kiểm tra, rà soát đoạn đường xảy ra sự việc, xác định: Tại Km42+900, đường Quốc lộ 31 có biển báo khu vực đông dân cư; Tại Km37+650, đường Quốc lộ 31 có biển báo hết khu đông dân cư; Tại vị trí Km38+600, đường Quốc lộ 31, nơi xảy ra sự việc, thuộc địa phận thôn T, xã T, huyện L thuộc khu vực đông dân cư.

Nguyên nhân dẫn đến vụ tai nạn giao thông nêu trên là do lỗi hỗn hợp. Nguyễn Mạnh H điều khiển xe ô tô không làm chủ tốc độ, không giữ khoảng cách an toàn đối với xe chạy liền trước xe của mình dẫn tới khi phát hiện chị Cao Thị T điều khiển xe máy điện sang đường H không kịp giảm tốc độ, đã đánh lái sang phần đường dành cho xe đi ngược chiều và va chạm với xe máy điện của chị T đã sang đến phần đường bên trái. Hành vi của Nguyễn Mạnh H đã vi phạm khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ và Điều 5, Điều 11 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ Giao thông vận tải; đối với chị Cao Thị T điều khiển xe máy điện sang đường không chú ý quan sát, không có tín hiệu thông báo sang đường và không giảm tốc độ dẫn tới xảy ra va chạm. Hành vi của chị Cao Thị T đã vi phạm khoản 1 Điều 15 Luật giao thông đường bộ.

Khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ quy định về quy tắc chung:

"1. Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định và phải chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ.".

Khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ quy định về tốc độ xe và khoảng cách giữa các xe:

“1. Người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải tuân thủ quy định về tốc độ xe chạy trên đường và phải giữ một khoảng cách an toàn đối với xe chạy liền trước xe của mình”.

Khoản 1Điều 11 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ Giao thông vận tải quy định về Khoảng cách an toàn giữa hai xe khi tham gia giao thông trên đường:

"1. Khi điều khiển xe tham gia giao thông trên đường bộ, người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải giữ một khoảng cách an toàn đối với xe chạy liền trước xe của mình; …

Khi điều khiển xe chạy với tốc độ dưới 60 km/h, người lái xe phải chủ động giữ khoảng cách an toàn phù hợp với xe chạy liền trước xe của mình; khoảng cách này tùy thuộc vào mật độ phương tiện, tình hình giao thông thực tế để đảm bảo an toàn giao thông.".

Khoản 5 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ Giao thông vận tải quy định: “Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn trong các trường hợp sau:

5. Qua khu vực đông dân cư….”;

Khoản 1 Điều 15 Luật giao thông đường bộ quy định về chuyển hướng xe:

"1. Khi muốn chuyển hướng, người điều khiển phương tiện phải giảm tốc độ và có tín hiệu báo hướng rẽ”.

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo Nguyễn Mạnh H đã khai nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng, bản kết luận điều tra là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật không oan sai, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Đối với đại diện theo uỷ quyền cho người bị hại và những người liên quan vắng mặt nhưng đều có đơn xin xét xử vắng mặt và không yêu cầu đề nghị bị cáo phải bồi thường dân sự. Đại diện theo uỷ quyền cho người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Mạnh H đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Bản cáo trạng số 53/CT-VKSYD ngày 24/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện L, tỉnh Bắc Giang truy tố bị cáo Nguyễn Mạnh H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Với nội dung trên bản án hình sự sơ thẩm số 76/2023/HS-ST ngày 12/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Bắc Giang đã xét xử và quyết định:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; Điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình. Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.

Ngoài ra bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, tiền án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi cấp sơ thẩm xét xử xong, ngày 21/6/2023 bị cáo Nguyễn Mạnh H nộp đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Mạnh H giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt với lý do: Án sơ thẩm xử phạt bị cáo 02 năm 06 tháng là quá nặng. Đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Lý do, bị cáo có mẹ đẻ có Huân chương kháng chiến hạng Ba; Đại diện cho gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt và tự nguyện nộp 200.000 đồng án phí sơ thẩm.

Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đưa ra đề nghị xem xét các vấn đề kháng cáo mà bị cáo đã kết luận. Tại cáp phúc thẩm bị cáo có thêm tình tiết giảm nhẹ, đề nghị HĐXX áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Mạnh H. Sửa án sơ thẩm xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh H 02 năm 04 tháng tù..

Phần tranh luận, bị cáo không có tranh luận gì.

Lời nói sau cùng của bị cáo Nguyễn Mạnh H: đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Mạnh H đã nộp theo đúng các quy định của pháp luật nên được coi là đơn kháng cáo hợp pháp cần được chấp nhận để xem xét.

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, qua quá trình xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm thấy đủ cơ sở xác định: Khoảng 04 giờ 10 phút, ngày 09/11/2022, tại Km38+600, đường Quốc lộ 31 thuộc địa phận thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang, Nguyễn Mạnh H, sinh năm 1978, trú tại thôn C, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Ford Transit, màu sơn đỏ, biển kiểm soát 29B-150.36, đi theo hướng từ thị trấn C – thành phố B, do không làm chủ tốc độ và không giữ khoảng cách an toàn đối với xe máy điện, nhãn hiệu 133Splus, màu sơn đen, không mang biển kiểm soát do chị Cao Thị T, sinh năm 1979, trú tại tổ dân phố L, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang điều khiển đi phía trước cùng chiều và sau đó chuyển hướng sang đường dẫn tới đã va chạm với xe máy điện; chị T cũng có một phần lỗi khi chuyển hướng xe sang đường không có tín hiệu và không giảm tốc độ. Hậu quả chị T tử vong tại chỗ, hai phương tiện bị hư hỏng, tổng thiệt hại là 11.980.000 đồng

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo Nguyễn Mạnh H thừa nhận toàn bộ hành vi như án sơ thẩm nêu là đúng, không oan. Bản án hình sự sơ thẩm số 76/2023/HS-ST ngày 12/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện L xét xử bị cáo Nguyễn Mạnh H về tội " Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ " theo quy định tại khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.

Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Mạnh H thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự an toàn giao thông đường bộ nói chung, ảnh hưởng xấu đến đến hoạt động bình thường các phương tiện giao thông đường bộ. Đặc biệt xâm đến tính mạng, tài sản của công dân, gây mất mát đau thương lớn về tinh thần cho gia đình nạn nhân và gây tâm lý hoang mang, lo lắng cho mọi người tham gia giao thông.

Xét về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Thành thì thấy:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng TNHS. Mặc dù bị cáo có 2 tiền án nhưng phạm tội lần này là nghiêm trọng do vô ý. Do vậy không áp dụng tăng nặng tái phạm đối với bị cáo.

Quá trình điều tra, truy tố bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tự nguyện bồi thường khắc phụ hậu quả. Người đại diện của bị hại làm đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, cấp sơ thẩm đã xem xét và áp dụng cho bị cáo là có căn cứ.

Án sơ thẩm sau khi đánh giá toàn diện, khách quan hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân dân bị cáo đã xử phạt bị cáo 02 năm 06 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan.

Tại cấp phúc thẩm, bị cáo tự nguyện nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn; Huân chương kháng chiến hạng Ba của bà Trần Thị P là mẹ đẻ bị cáo; Đơn xin giảm nhẹ hình phạt của đại diện hợp pháp người bị hại. Do vậy cần áp dụng cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét tại cấp phúc thẩm bị cáo có tình tiết giảm nhẹ mới. Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận kháng cáo sửa án sơ thẩm giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết..

Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Mạnh H. Sửa bản án hình sự sơ thẩm.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; Điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh H 02 (hai) năm tù, về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.

Về án phí: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án bị cáo Nguyễn Mạnh H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ