vanban.org

Bản án 151/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Bến Cát, tỉnh Bình Dương Tuyên án 31/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Quach B phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật…"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Văn bản hợp nhất số 02/VBHN-TANDTC Nghị quyết hướng dẫn áp d…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ C
TỈNH B DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 151/2023/HS-ST
Ngày: 31-7-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ C, TỈNH B DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Xuân.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lục Kim Thanh;

Ông Lương Thanh Nhàn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thắm - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã C, tỉnh B Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã C, tỉnh B Dương tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Minh Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 7 năm 2023 tại Tòa án nhân dân thị xã C, tỉnh B Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 146/2023/TLST-HS ngày 14 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 139/2023/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:

Quách B, sinh năm: 1981 tại tỉnh Cà Mau; đăng ký thường trú: Số 16, đường Nguyễn S, Khóm 6, Phường 5, thành phố M, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Quách Văn Rú, sinh năm: 1946 và bà Đặng Thị Thu, sinh năm: 1951; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 29/5/2023 đến ngày 01/6/2023; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/6/2023 cho đến nay - bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Ông Đỗ H, sinh năm: 2002; đăng ký thường trú: số 15/10, đường Đoàn Đ, phường L, thành phố T, tỉnh Đắk Lắk (đã chết);

- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Nguyễn O, sinh năm: 1976; đăng ký thường trú: Ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Đắk Lắk (là mẹ của bị hại).

Bà O ủy quyền cho ông Đỗ H, sinh năm: 1998; đăng ký thường trú: Ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Đắk Lắk; tạm trú: khu phố 3, phường P, thị xã C, tỉnh B Dương (Giấy ủy quyền ngày 05/6/2023) - vắng mặt, có đơn đề nghị vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nguyễn T- Chủ Doanh nghiệp tư nhân xe khách T; địa chỉ trụ sở: Số 450, đường Lý K, Khóm 2, Phường 6, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

Người đại diện hợp pháp: Ông Phạm M, sinh năm: 1972; đăng ký thường trú: Khóm 4, Phường 7, thành phố M, tỉnh Cà Mau, là người đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền ngày 14/6/2023) - vắng mặt, có đơn đề nghị vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Quách B được Sở Giao thông Vận tải tỉnh Cà Mau cấp giấy phép lái xe ô tô hạng E số 960101000113 ngày 24/9/2019. B được thuê làm tài xế lái xe khách cho Doanh nghiệp tư nhân xe khách Hòa Thuận.

Trưa ngày 29/5/2023, B điều khiển xe ô tô khách loại 40 giường nằm, biển số 69B-004.90 chở khách từ tỉnh Cà Mau đến khu công nghiệp P 1, thị xã C, tỉnh B Dương để trả khách. Đến khoảng 17 giờ 40 phút cùng ngày, B điều khiển xe lưu thông trên đường N1, hướng từ đường D1 đến đường TC1, đến ngã tư giao nhau với đường D14 thuộc khu phố 6, phường H, thị xã C. Lúc này, do B điều khiển xe không chú ý quan sát, không giảm tốc độ khi vào giao lộ nên xe ô tô biển số 69B-004.90 đã va chạm với xe mô tô biển số 47C1-344.64 do ông Đỗ H đang điều khiển chạy trên đường D14 hướng từ đường N5 đến đường N6A (từ phải sang trái hướng xe ô tô biển số 69B-004.90 chạy), gây tai nạn giao thông làm ông H tử vong tại chỗ. Ngay sau khi va chạm, B điều khiển xe dừng lại trên đường rồi đến Công an thị xã C đầu thú.

Theo biên bản khám nghiệm hiện trường:

- Hiện trường xảy ra tai nạn là ngã tư giao nhau giữa đường N1 và D14 thuộc khu phố 6, phường Thới Hòa, thị xã C. Tại ngã tư không có đèn tín hiệu giao thông, không có biển báo cảnh báo khi vào giao lộ.

- Đoạn đường N1 là đường hai chiều, thẳng, mặt đường trải nhựa khô cứng, không có dải phân cách, không có vạch kẻ đường, chiều rộng mặt đường là 8,0m.

- Đoạn đường D14 là đường hai chiều, thẳng, mặt đường trải nhựa khô cứng, không có dải phân cách, có vạch kẻ đường đứt quãng màu trắng phân chia đường thành 02 chiều, mỗi chiều rộng 3,7m.

- Lấy lề phải đường N1 theo chiều hướng xe ô tô biển số 69B-004.90 lưu thông từ đường D1 đến TC1 làm lề chuẩn.

- Lấy trụ biển báo tên đường N1/D14 làm điểm mốc.

- Vết cày xe mô tô biển số 47C1-344.64 sau tai nạn để lại trên mặt đường dạng thẳng, đứt quãng, không liên tục, hướng vết cày từ đường D1 đến đường TC1 hướng chếch sang bên trái; đầu vết cày nằm trong giao lộ đường N1-D14, cách mép đường chuẩn 4,2m, kích thước vết cày là 12,8mx0,03m, điểm cuối vết cày kết thúc tại bên phải xe mô tô biển số 47C1-344.64.

- Xe ô tô khách biển số 69B-004.90 sau tai nạn đỗ tại hiện trường trên đường N1, đầu xe hướng đến đường TC1, đuôi xe hướng về đường D1. Trục bánh trước bên phải cách mép đường chuẩn là 4,0m, trục bánh sau bên phải cách mép đường chuẩn là 3,8m, cách điểm đầu vết cày xe mô tô biển số 47C1-344.64 là 3,9m.

- Nạn nhân Đỗ H sau tai nạn tử vong tại hiện trường nằm trên lề trái đường N1 trong tư thế nằm ngửa, đầu nạn nhân hướng về đường TC1, chân nạn nhân hướng về đường D1; đỉnh đầu nạn nhân cách mép đường chuẩn 9,0m, cách trục bánh trước xe mô tô là 2,8m; khoảng cách giữa hai chân nạn nhân cách mép đường chuẩn là 7,9m, cách trục bánh trước bên trái xe ô tô khách 2,5m.

- Xe mô tô biển số 47C1-344.64 sau tai nạn ngả nghiêng sang bên phải, nằm trên đường N1, đầu xe nằm dưới đầu xe ô tô khách; đầu xe hướng về đường D1 chếch về hướng bên trái mép đường, đuôi xe hướng về đường TC1 chếch vào mép đường chuẩn; cách trục bánh trước bên trái xe ô tô khách là 1,2m; trục bánh sau cách mép đường chuẩn là 5,6m.

Theo Biên bản khám nghiệm phương tiện:

- Dấu vết trên xe ô khách biển số 69B-004.90: Vết trượt xước, rách cản trước còn dính vết màu đỏ, đen, cách mặt đường là 0,66m; móp mặt trước cabin xe, cách mặt đường là 0,97m x 1,12m; bể ốp đầu cần gạt nước bên phải, cách mặt đường là 1,37m x 1,49m; kính chắn gió trước bên phải bị nứt; rách mặt trước, mặt dưới cản trước, cách mặt đường là 0,43m x 0,49m.

- Dấu vết để lại trên xe mô tô biển số 47C1-344.64 sau va chạm: Bể gương chiếu hậu bên trái, trượt xước đầu tay cầm bên trái còn dính vết màu xanh; trượt xước mặt ngoài ống phuộc trước bên trái; bung, bể cánh bửng bên trái còn dính vết màu xanh; bung mặt nạ, dồn từ trái sang phải; bung cánh bửng phải, mài mòn đầu tay cầm phải, cong tay cầm phải hướng xuống dưới; mài mòn đầu gác chân trước trái, cong về sau, mài mòn cần đạp nổ, ống xả, mài mòn ốp hông sau phải.

Vật chứng thu giữ: 01 xe ô tô khách biển số 69B-004.90, 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô khách biển số 69B-004.90, 01 Giấy chứng nhận đăng kiểm xe ô tô khách biển số 69B-004.90, 01 Giấy phép lái xe hạng E số 960101000113 mang tên Quách B và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda RSX màu đen- đỏ, biển số 47C1-344.64.

Theo Kết luận giám định pháp y tử thi số 431, ngày 01/6/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B Dương, kết luận: Nguyên nhân chết của nạn nhân Đỗ H là do đa chấn thương.

Theo kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu ngày 29/5/2023 của Bệnh viện đa khoa Mỹ Phước đối với Quách B (lấy máu lúc 20 giờ 12 phút cùng ngày) thì nồng độ cồn trong máu của B là 0,00mg/L (<10,9mg/L).

Quá trình điều tra, Quách B đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập có trong hồ sơ vụ án.

Ngày 15/6/2023, Quách B và ông Phạm Thanh Minh (là người đại diện theo ủy quyền của chủ Doanh nghiệp tư nhân xe khách Hòa Thuận) đã thỏa thuận bồi thường cho anh Đỗ Nhật Hào (là người đại diện hợp pháp của nạn nhân Đỗ H) số tiền 210.000.000 đồng. Anh Hào có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ hình phạt cho B.

Ngày 16/6/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã C xử lý vật chứng: Giao trả xe ô tô khách biển số 69B-004.90, 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô khách biển số 69B-004.90 và 01 Giấy chứng nhận đăng kiểm xe ô tô khách biển số 69B-004.90 cho anh Phạm M; giao trả cho anh Đỗ H 01 xe mô tô biển số 47C1-344.64.

Bản Cáo trạng số 163/CT-VKSBC ngày 14/7/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã C, tỉnh B Dương truy tố bị cáo Quách B về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ như nội dung Cáo trạng nêu trên và không có ý kiến gì khác.

Tại phần tranh luận:

1. Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã C trình bày luận tội:

- Giữ nguyên quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã C tại Bản Cáo trạng số 163/CT-VKSBC ngày 14/7/2023 đối với bị cáo Quách B;

+ Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017): Xử phạt bị cáo Quách B từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách từ 04 đến 05 năm.

+ Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị.

- Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.

- Về vật chứng: Đề nghị trả cho bị cáo 01 Giấy phép lái xe hạng E.

2. Bị cáo Quách B không bào chữa, không phát biểu ý kiến tranh luận với Kiểm sát viên.

Lời nói sau cùng của bị cáo Quách B: Bị cáo nhận thức hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật hình sự nên đồng ý với quyết định truy tố của Cáo trạng và luận tội của Kiểm sát viên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã C, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thị xã C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định pháp luật.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo Quách B tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, do đó có đủ cơ sở kết luận:

Quách B được Sở Giao thông Vận tải tỉnh Cà Mau cấp giấy phép lái xe ô tô hạng E số 960101000113 ngày 24/9/2019. Khoảng 17 giờ 40 phút ngày 29/5/2023, B điều khiển xe ô tô khách loại 40 giường nằm, biển số 69B-004.90 chở khách từ tỉnh Cà Mau đến khu công nghiệp P, thị xã C, tỉnh B Dương để trả khách, không chú ý quan sát, không giảm tốc độ và nhường đường khi vào giao lộ dẫn tới tai nạn giao thông là vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ theo quy định tại khoản 1 Điều 24 Luật giao thông đường bộ năm 2008. Hành vi điều khiển phương tiện giao thông đường bộ là xe ô tô vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây tai nạn giao thông làm cho bị hại Đỗ H tử vong do bị cáo B thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Cáo trạng số 163/CT-VKSBC ngày 14/7/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã C, tỉnh B Dương truy tố bị cáo với tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội, phù hợp hoàn toàn với hành vi thực tế mà bị cáo đã gây ra.

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm, thể hiện sự xem thường pháp luật, không những gây ảnh hưởng đến an toàn giao thông mà còn xâm hại trực tiếp đến tính mạng của người khác và ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự công cộng tại địa phương. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được việc điều khiển phương tiện giao thông không chú ý quan sát, không giảm tốc độ và nhường đường khi vào giao lộ là nguy hiểm nH vẫn cố ý thực hiện dẫn đến tai nạn làm bị hại tử vong. Do đó đối với bị cáo cần phải có mức hình phạt nghiêm minh, tương xứng với tính chất và mức độ phạm tội để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo luật định là: Tự nguyện khắc phục hậu quả; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Ngay sau khi xảy ra tai nạn, bị cáo đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã C đầu thú; bị cáo có cha là ông Quách Văn Rú được Chủ tịch nước tặng Huân chương lao động hạng Ba; người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn bãi nại, xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Xét bị cáo Quách B có nơi cư trú rõ ràng, chưa có tiền án, tiền sự và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Bị cáo có đủ điều kiện cho hưởng án treo theo hướng dẫn tại Nghị quyết hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo. Xét thấy bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội nên không cần thiết phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù mà cần áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự, cho bị cáo hưởng án treo nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục.

Lời đề nghị của Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã C về việc áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và áp dụng hình phạt tù, cho hưởng án treo đối với bị cáo là phù hợp nên có cơ sở chấp nhận. Riêng đề nghị về mức hình phạt đối với bị cáo có phần nghiêm khắc đối với mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định mức hình phạt đối với bị cáo B thấp hơn đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định: Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Tại phiên tòa bị cáo trình bày ngoài công việc lái xe để có thu nhập nuôi sống bản thân thì bị cáo không có nghề nghiệp, việc làm gì khác. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung cấm hành nghề lái xe đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và người đại diện hợp pháp của chủ Doanh nghiệp tư nhân xe khách Hòa Thuận đã liên đới bồi thường cho người đại diện hợp pháp của bị hại là ông Đỗ H số tiền 210.000.000 đồng (hai trăm mười triệu đồng), ông Hào không có yêu cầu gì thêm nên không đặt vấn đề xem xét, giải quyết. Trường hợp chủ Doanh nghiệp tư nhân xe khách T có yêu cầu bị cáo Quách B hoàn trả lại một phần khoản tiền bồi thường thì sẽ được xem xét giải quyết bằng vụ án dân sự khác.

Về vật chứng: Ngày 16/6/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã C xử lý vật chứng giao trả xe ô tô khách biển số 69B-004.90, 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô khách biển số 69B-004.90 và 01 Giấy chứng nhận đăng kiểm xe ô tô khách biển số 69B-004.90 cho ông Phạm Thanh Minh; giao trả cho ông Đỗ Nhật Hào 01 xe mô tô biển số 47C1-344.64 là phù hợp. Trả lại cho bị cáo một giấy phép lái xe ô tô hạng E số 960101000113 ngày 24/9/2019.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị quyết hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo (hợp nhất số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022);

Căn cứ vào Điều 106; điểm d khoản 1 Điều 125, Điều 136, Điều 260, Điều 299, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Quách B phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2. Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Quách B 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 03 (ba) năm 04 (bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Quách B cho Ủy ban nhân dân Phường 5, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo Quách B thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc phải chấp hành hình phạt của bản án này và tổng hợp hình phạt của Bản án mới theo quy định.

Hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 72/2023/HSST-LCCT ngày 16/7/2023 đối với bị cáo Quách B kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

3. Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.

4. Về vật chứng: Trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe ô tô số 960101000113, hạng E mang tên Quách B do Sở Giao thông Vận tải tỉnh Cà Mau cấp ngày 24/9/2019.

(Vật chứng đã được giao cho Chi cục Thi hành án dân sự thị xã C theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 31/7/2023).

5. Về án phí: Bị cáo Quách B phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người đại diện hợp pháp của bị hại, người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc niêm yết Bản án theo quy định./.

Cỡ chữ