- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn giữa Nguyên-Quỳnh"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 151/2023/HNGĐ-ST Ngày 19 tháng 9 năm 2023 V/v tranh chấp: “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Ngọc Thúy
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đặng Hữu Tấn
2. Bà Đặng Thị Mỹ Hường
- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Ngọc Dung - Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Bà Tạ Kim Oanh - Kiểm sát viên
Ngày 19 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 392/2023/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 7 năm 2023.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 422/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 8 năm 2023, về việc tranh chấp:“Ly hôn”, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Trần Nguyễn Phúc N, sinh năm 1998
Địa chỉ: Ấp T, xã V, huyện C, tỉnh An Giang (Có đơn yêu cầu vắng mặt)
2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Thúy Q, sinh năm 2001
Địa chỉ: Số C đường C, tổ C, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Nguyên đơn anh Trần Nguyễn Phúc N có ý kiến trình bày thể hiện nội dung: Anh và chị Nguyễn Thị Thúy Q tự quen biết, tìm hiểu sau đó tiến tới hôn nhân. Anh chị có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện C, tỉnh An Giang theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 44 ngày 25/6/2020. Sau khi kết hôn anh, chị sống hạnh phúc được 02 năm thì phát sinh mâu thuẫn, cuộc sống chung vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt. Nay, anh N yêu cầu giải quyết:
- Về hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với chị Nguyễn Thị Thúy Q.
- Về con chung: Có 01 (một) con chung tên là Trần Nguyễn Phúc M, sinh năm 28/11/2020. Hiện nay, cháu M đang được chị Q và bà ngoại chăm sóc nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn anh N đồng ý để con chung cho chị Q được nuôi dưỡng, anh không tranh chấp vì việc chăm sóc cũng như môi trường sống hiện nay của cháu rất tốt và cháu còn nhỏ do đó anh đồng ý để cháu M được chị Q và gia đình vợ tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, anh không phải cấp dưỡng nuôi con vì việc cấp dưỡng anh đều có đưa tiền hỗ trợ nuôi con bên ngoài không yêu cầu tòa án giải quyết.
- Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đồng thời, ngày 02/8/2023, anh Trần Nguyễn Phúc N có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt vì công việc nên anh N xin vắng mặt không tham gia phiên tòa.
* Bị đơn chị Nguyễn Thị Thúy Q vắng mặt suốt trong quá trình giải quyết nên không có ý kiến trình bày
Tại phiên tòa, nguyên đơn anh Trần Nguyễn Phúc N có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt; Bị đơn chị Nguyễn Thị Thúy Q được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không tham dự phiên tòa.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đảm bảo theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn giữa anh Trần Nguyễn Phúc N với chị Nguyễn Thị Thúy Q. Về quan hệ con chung sau khi ly hôn giao con chung giao cháu Trần Nguyễn Phúc M, sinh năm 28/11/2020 cho chị Q tiếp tục nuôi dưỡng, anh N không phải cấp dưỡng nuôi con do yêu cầu cấp dưỡng do không ghi nhận được ý kiến của chị Q nên không giải quyết. Về quan hệ tài sản chung, nợ chung đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Chị Nguyễn Thị Thúy Q mặc dù được tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật nhưng chị Q vẫn không tham dự phiên tòa nên vụ án được tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn anh Trần Nguyễn Phúc N có đơn yêu cầu được vắng mặt tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu của anh N là phù hợp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận và tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn.
Về thẩm quyền: Anh Trần Nguyễn Phúc N khởi kiện xin ly hôn với chị Nguyễn Thị Thúy Q đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên.
Về quan hệ hôn nhân:
Theo đơn khởi kiện, ý kiến trình bày tại các buổi làm việc tại tòa án, anh Trần Nguyễn Phúc N có ý kiến về quan hệ hôn nhân giữa anh và chị Nguyễn Thị Thúy Q kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện C, tỉnh An Giang theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 44 ngày 25/6/2020. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống thường phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chính là do không có tiếng nói chung trong cuộc sống, giữa vợ chồng thường bất đồng quan điểm về kinh tế, cả hai đã ly thân từ năm 2022 cho đến nay. Do, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, giữa hai bên có nhiều mâu thuẫn trầm trọng không thể hàn gắn được, đời sống chung không thể kéo dài nên anh N yêu cầu giải quyết được ly hôn với chị Q.
Trong quá trình giải quyết vụ án mặc dù chị Nguyễn Thị Thúy Q được tống đạt các văn bản nhưng chị Q không đến Tòa án cũng như không có ý kiến đối với việc anh N xin ly hôn. Hội đồng xét xử nhận thấy, anh N trình bày hôn nhân giữa anh và chị Q không còn sự quan tâm, vợ chồng không còn thực hiện các quyền và nghĩa vụ với nhau, cũng như không có giải pháp nhằm hàn gắn, duy trì cuộc hôn nhân.
Hội đồng xét xử nhận thấy, trong cuộc sống hôn nhân phải trên cơ sở tự nguyện, anh N không đồng ý tiếp tục chung sống cùng với chị Q, còn chị Q không có ý kiến trình bày. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 để chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Trần Nguyễn Phúc N với chị Nguyễn Thị Thúy Q.
Về con chung: Anh N trình bày và cung cấp giấy khai sinh thể hiện anh và chị Q chung sống với nhau có 01 (một) con chung tên Trần Nguyễn Phúc M, sinh năm 28/11/2020, hiện cháu M đang được chị Q nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn anh N đồng ý để con chung cho chị Q tiếp tục nuôi dưỡng, anh N cũng xác định hiện nay cháu M sống trong môi trường rất tốt được bà ngoại chăm sóc rất kỹ, cháu phát triển rất tốt. Anh N thường xuyên đến thăm và có khi rướt cháu về nhà chăm sóc, gia đình chị Q luôn tạo điều kiện cho cho anh N thăm và chăm sóc cháu M. Vì vậy, để cháu M được sống và phát triển toàn diện đảm bảo ổn định tâm lý, cháu được khỏe mạnh trong môi trường đầy đủ do đó anh N không tranh chấp mà đồng ý để con chung sống ổn định như hiện nay và anh không phải cấp dưỡng nuôi con.
Hội đồng xét anh N có ý kiến liên quan đến việc nuôi dưỡng, cấp dưỡng nuôi con và không tranh chấp với chị Q. Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét về lợi ích mọi mặt của cháu Trần Nguyễn Phúc M, sinh năm 30/9/2017 nên chấp nhận đối với việc nuôi dưỡng con chung sau khi ly hôn giao cháu M cho chị Q tiếp tục chăm sóc và nuôi dưỡng
Đối với việc cấp dưỡng nuôi con là nghĩa vụ của người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, chị Q là người trực tiếp nuôi con và anh N xác định không đặt ra yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, chị Q cũng không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Anh N trình bày không có, không tranh chấp và không yêu cầu Tòa án giải quyết nhưng chị Q vắng mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Anh N phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Bởi các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 143; khoản 1 Điều 146; khoản 4 Điều 147; Điều 186; khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228; Điều 232; điểm b khoản 1 Điều 238; Điều 271; Điều 273; Điều 278 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Điều 51, Điều 53, Điều 54, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 59, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Nguyễn Phúc N đối với chị Nguyễn Thị Thúy Q
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Trần Nguyễn Phúc N với chị Nguyễn Thị Thúy Q
Giấy chứng nhận kết hôn số 44 do Ủy ban nhân dân xã V, huyện C, tỉnh An Giang cấp ngày 25/6/2020 cho anh Trần Nguyễn Phúc N và chị Nguyễn Thị Thúy Q hết hiệu lực kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
2. Về con chung: Có 01 (một) con chung tên là Trần Nguyễn Phúc M, sinh năm 28/11/2020. Sau khi ly hôn, chị Nguyễn Thị Thúy Q nuôi dưỡng con chung cháu Trần Nguyễn Phúc M đến lúc trưởng thành. Anh N không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Q không có yêu cầu.
Chị Q phải tạo điều kiện cho anh N trong việc trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung. Việc cấp dưỡng và nuôi con chung không cố định.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trong nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
4. Về án phí sơ thẩm:
4.1. Anh Trần Nguyễn Phúc N phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002044 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên ngày 10 tháng 7 năm 2023. Anh N đã nộp đủ tiền án phí.
4.2. Chị Nguyễn Thị Thúy Q không phải nộp tiền án phí sơ thẩm.
* Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng, các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương nơi cư ngụ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Các đương sự “ Để thi hành”; - VKSND.TPLX; - TAND.An Giang; - UBND nơi đăng ký kết hôn; - Lưu: hồ sơ;VP. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trịnh Ngọc Thúy |