vanban.org

Bản án 151/2022/HSST — Hình sự

TAND TP. Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 23/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: các bị cáo Nguyễn Văn C, Đào Đình T, Vũ Đình P, Trương Văn H và Nguyễn Văn T phạm tội: "Đánh bạc".

Bị cáo Nguyễn Văn C 25.000.000 (hai mươi lăm triệu) đồng nộp ngân sách nhà nước. Bị cáo Đào Đình T 25.000.000 (hai mươi lăm triệu) đồng nộp ngân sách nhà nước. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn C cđp - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: các bị cáo Nguyễn Văn C, Đào Đình T, Vũ Đình P, Trương Văn H và Nguyễn Văn T phạm tội: "Đánh bạc".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẠ LONG
TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 151/2022/HSST
Ngày: 23 - 8 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa P tòa: bà Nguyễn Thị Định.

Các hội thẩm nhân dân: bà Bùi Kim Dung và ông Lê Thế Phương.

- Thư ký P tòa: bà Phùng Hương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long tham gia P tòa: ông Trần Anh Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 8 năm 2022 tại phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 119/2022/TLST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 139/2022/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2022 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Văn C – sinh ngày 01/01/1963, tại Hưng Yên; nơi cư trú: thôn Đ, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 6/10; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn T và bà: Bùi Thị L; có vợ là Nguyễn Thị T và có 03 con: lớn sinh năm 1985, nhỏ sinh năm 1990; tiền án, tiền sự: không có.

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 23/4/2022, tạm giữ đến ngày 02/5/2022, được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại có mặt tại P tòa.

2. Họ và tên: Đào Đình T – sinh ngày 18/01/1989, tại tỉnh Hưng Yên; nơi cư trú: thôn A, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đào Đình P và bà: Hoàng Thị K; có vợ là Mai Thị Lệ H (đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: không có.

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 23/4/2022, tạm giữ đến ngày 02/5/2022, được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại có mặt tại P tòa.

3. Họ và tên: Vũ Đình P – sinh ngày 23/8/1982, tại tỉnh Hải Dương; nơi cư trú: thôn Tráng Liệt, xã Thanh Sơn, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Vũ Đình Thiển và bà: Trần Thị Mạy; có vợ là Đỗ Thị Nhung (đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2006; tiền án, tiền sự: không có.

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 23/4/2022, tạm giữ đến ngày 02/5/2022, được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại có mặt tại P tòa.

4. Họ và tên: Trương Văn H – sinh ngày 30/12/1991, tại tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: thôn S, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 6/10; dân tộc: Mường; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trương Văn K và bà: Bùi Thị Â (đã chết); vợ con: chưa có; tiền án, tiền sự: không có.

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 23/4/2022, tạm giữ đến ngày 02/5/2022, được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại có mặt tại P tòa.

5. Họ và tên: Nguyễn Văn T, sinh ngày 02/7/1983, tại tỉnh Thái Bình; nơi ĐKHKTT: thôn N, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 3/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Xuân T và bà: Trần Thị H; có vợ là Lục Kim T; có 01 con sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: không có.

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 23/4/2022, tạm giữ đến ngày 02/5/2022, được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại có mặt tại P tòa.

- Những người chứng kiến:

+ Anh Vũ Đình P – sinh ngày 24/02/1960, vắng mặt.

+ Anh Lương Thanh T – sinh ngày 20/4/1989, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại P tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 23/4/2022, Nguyễn Văn C đang ở phòng trọ số “3” của mình tại tổ 4, khu 5, phường Trần Hưng Đạo, thành phố Hạ Long do anh Lương Thanh T làm chủ, thì có Nguyễn Văn T, Vũ Đình P, Trương Văn H đến chơi. Quá trình ngồi chơi, C rủ T, P, H đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức đánh “Liêng” với số tiền “Gà” 10.000 đồng (mười nghìn đồng) thì tất cả đồng ý. C chuẩn bị 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân bài rồi cả nhóm ngồi lên giường trong phòng trọ để đánh bạc.

Hình thức chơi được quy định như sau: Sử dụng bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân bài từ “A, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, J, Q, K” để đánh “Liêng”. Khi bắt đầu chơi, mỗi người chơi phải bỏ ra số tiền là 10.000 đ (mười nghìn đồng), gọi là tiền “gà”. Mỗi người chơi được chia 03 quân bài, sau đó sẽ có các lựa chọn như sau: “úp bài” nếu cảm thấy bài của mình có số điểm thấp, không thể thắng người khác, nếu “úp bài” người chơi sẽ chỉ bị mất đi số tiền đặt “gà” ban đầu và kết thúc ván bài sau đó; “theo” là đặt tiền cược bằng số tiền của người ở cửa trên (người ở phía trước theo vòng kim đồng hồ) đặt; “tố” là đặt thêm tiền cược cao hơn số tiền của những người chơi trên đã đặt, số tiền “tố” từ 20.000 đồng (hai mươi nghìn đồng) đến 100.000 đ (một trăm nghìn đồng) mỗi lượt và mỗi ván bài có nhiều lượt “tố” nhưng không quá 3 vòng. Sau khi người chơi đặt xong tiền cược, không còn ai theo nữa thì sẽ mở bài để so sánh với nhau, người nào có bộ bài mang giá trị cao nhất sẽ là người thắng. Các bộ bài được tính theo thứ tự từ lớn đến bé như sau: “sáp” là bộ ba lá bài giống nhau theo thứ tự từ bé đến lớn 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, J, Q, K, A; “liêng” là ba lá bài liên tiếp nhau bé nhất là A, 2, 3 và lớn nhất là Q, K, A; “ảnh” là cả ba quân bài đều là quân tây (J, Q, K). Nếu không thuộc các trường hợp trên thì cộng điểm của 3 quân bài lại, lấy số của hàng đơn vị để so sánh với nhau. Trong đó quy ước quân A là 1 điểm, 10, J, Q, K đều là 0 điểm; các quân còn lại có số điểm Tơng ứng. Khi có các bộ bài giống nhau thì tính theo chất từ lớn đến bé là Cơ, Rô, Bích, Tép.

Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, Đào Đình T đi đến phòng trọ của C chơi, thấy mọi người đang đánh bạc thì tham gia đánh bạc cùng. Do có việc cá nhân nên C dừng chơi, một mình rời khỏi phòng trọ. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, C quay lại phòng trọ thấy mọi người vẫn đang đánh bạc nên tiếp tục vào chơi. Đến 18 giờ 30 phút cùng ngày, Tổ công tác Đội Cảnh sát hình sự Công an thành phố Hạ Long phối hợp cùng Công an phường Trần Hưng Đạo, thành phố Hạ Long tiến hành kiểm tra, phát hiện bắt quả tang C, T, P, H và T đang có hành vi đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức đánh “Liêng”; thu giữ tại vị trí 5 người ngồi đánh bạc số tiền 6.570.000 đ (sáu triệu năm trăm bẩy mươi nghìn đồng); 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân bài; 01 chiếc chăn màu trắng họa tiết hoa lá, kích thước (2x1,8) mét.

Về số tiền đánh bạc thắng, thua các bị can khai nhận: C bỏ ra 500.000 đ (năm trăm nghìn đồng) để đánh bạc và đã bị thua còn 240.000 đ (hai trăm bốn mươi nghìn đồng); T bỏ ra 3.700.000 đ (ba triệu bẩy trăm nghìn đồng) để đánh bạc và đã thắng 540.000 đồng (năm trăm bốn mươi nghìn đồng); P bỏ ra 930.000 đ (chín trăm ba mươi nghìn đồng) để đánh bạc và đã thắng 400.000 đ (bốn trăm nghìn đồng); H bỏ ra 740.000 đ (bẩy trăm bốn mươi nghìn đồng) để đánh bạc và đã bị thua còn 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng); T bỏ ra 700.000 đ (bẩy trăm nghìn đồng) để đánh bạc và đã bị thua còn 460.000 đ (bốn trăm sáu mươi nghìn đồng).

Quá trình điều tra và tại P tòa, Nguyễn Văn C, Đào Đình T, Vũ Đình P, Trương Văn H và Nguyễn Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Những người chứng kiến anh Vũ Đình P và anh Lương Thanh T vắng mặt tại P tòa, nhưng tại cơ quan điều tra có lời khai phù hợp với lời khai của các bị cáo về nội dung vụ án.

Tại bản Cáo trạng số 124/CT-VKSHL ngày 27/6/2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long đã truy tố các bị cáo về tội: "Đánh bạc" theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại P toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long giữ nguyên Cáo trạng truy tố đối với các bị cáo về tội: “Đánh bạc" và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 17; Điều 58; Điều 35 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo. Bị cáo C và H được áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: các bị cáo Nguyễn Văn C và Đào Đình T, mỗi bị cáo từ 26.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng; các bị cáo Vũ Đình P, Trương Văn H và Nguyễn Văn T, mỗi bị cáo từ 20.000.000đồng đến 25.000.000đồng nộp ngân sách Nhà nước.

Về vật chứng: Đề nghị tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 6.570.000 đ (sáu triệu năm trăm bẩy mươi nghìn đồng) và tịch thu tiêu hủy toàn bộ vật chứng.

Tại P tòa các bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long và bản luận tội của Kiểm sát viên.

Lời nói sau cùng: Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử khoan hồng giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại P tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Hạ Long, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của các bị cáo thể hiện: Tại P tòa các bị cáo: Nguyễn Văn C, Vũ Đình P, Đào Đình T, Trương Văn H và Nguyễn Văn T khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hạ Long lập hồi 19 giờ 00 phút ngày 23/4/2022 và phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 14 giờ ngày 23/4/2022, tại phòng trọ của Nguyễn Văn C thuê của anh Lương Thanh Tùng ở tổ 4, khu 5, phường Trần Hưng Đạo, thành phố Hạ Long, Nguyễn Văn C, Đào Đình T, Vũ Đình P, Trương Văn H và Nguyễn Văn T đã có hành vi dùng bài tú lơ khơ đánh bạc trái phép được thua bằng tiền, dưới hình thức đánh “Liêng”. Đến 18 giờ 30 phút cùng ngày, thì bị Công an thành phố Hạ Long phát hiện bắt quả tang, thu giữ tại vị trí ngồi đánh bạc 6.570.000 đ (sáu triệu năm trăm bẩy mươi nghìn đồng) và 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân, 01 chiếc chăn màu trắng họa tiết hoa lá, kích thước (2x1,8) mét.

Hành vi nêu trên của các bị cáo: Nguyễn Văn C, Đào Đình T, Vũ Đình P, Trương Văn H và Nguyễn Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự, như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long đã truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm trật tự và an toàn công cộng được pháp luật hình sự bảo vệ. Đánh bạc là một tệ nạn xã hội mà Nhà nước ta đang ra sức loại trừ. Vì đánh bạc mà nhiều gia đình bị khánh kiệt, nợ nần chồng chất, nó cũng là nguyên nhân gây nên các loại tội phạm khác. Các bị cáo đều đã trưởng thành, đáng lẽ các bị cáo chăm lo làm ăn lương thiện, ngược lại các bị cáo lại tham gia đánh bạc kiếm tiền bất chính, làm ảnh hưởng đến an ninh, trật tự trên địa bàn. Vì vậy, cần phải có biện pháp xử lý Tơng xứng với hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra, mới có tác dụng giáo dục, cải tạo và phòng ngừa chung.

Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ: các bị cáo đều có nhân thân tốt; chưa có tiền án, tiền sự; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị C và bị cáo H đều có bố đẻ là người có công với cách mạng nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo không có.

Về vai trò: vụ án mang tính chất đồng phạm giản đơn, bị cáo C là người khởi xướng việc đánh bạc nên giữ vai trò đầu, sau đến T là người bỏ tiền nhiều nhất để đánh bạc với số tiền 3.700.000đồng, cuối cùng là các bị cáo: T, P, H cùng tham gia đánh bạc với số tiền bỏ ra đánh bạc gần như nhau nên các bị cáo này có vai trò ngang nhau.

Về hình phạt: Căn cứ vào nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ của các bị cáo, khi lượng hình, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo để thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.

Các bị cáo không có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, số tiền bỏ ra đánh bạc không lớn và có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài lần phạm tội này các bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú. Do đó, để thể hiện tính nhân đạo của pháp luật, cần giảm nhẹ hình phạt cho tất cả các bị cáo và không cần thiết phải bắt các bị cáo phải đi chấp hành hình phạt tù cũng đủ răn đe, giáo dục các bị cáo. Do tính chất hành vi phạm tội ở mức độ nhất định và số lượng tiền đánh bạc không lớn, nên cần áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền đối với các bị cáo cũng đủ giáo dục các bị cáo trở thành công dân có ích.

Bị cáo C là người chuẩn bị công cụ phạm tội, rủ rê lôi kéo các bị cáo khác và bị cáo T là người bỏ tiền ra đánh bạc nhiều nhất nên phải chịu mức hình phạt ngang nhau. Tiếp theo là các bị cáo: P, H, T có số lượng tiền bỏ ra đánh bạc ở mức độ nhất định nên chịu mức hình phạt thấp hơn là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: các bị cáo đều có hoàn cảnh gia đình khó khăn, không có tài sản riêng; các bị cáo đã bị áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

+ Số tiền 6.570.000đồng thu trên chiếu bạc (trong đó thu của C 240.000đồng, thu của P 1.330.000đồng, thu của H 300.000đồng, thu của T 460.000đồng, thu của T 4.240.000đồng), là tiền dùng để đánh bạc cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

+ Đối với: 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân là phương tiện phạm tội cần tịch thu tiêu hủy và 01 chiếc chăn màu trắng họa tiết hoa lá kích thước (2x1,8)mét thu của bị cáo C, bị cáo không yêu cầu nhận lại, không có giá trị sử dụng, nên cần tịch thu tiêu hủy.

Luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại P tòa đối với các bị cáo về tội danh, điều khoản truy tố, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ và mức hình phạt đề nghị áp dụng là có căn cứ, phù hợp với nội dung của vụ án đã được thẩm tra công khai tại P tòa nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí và quyền kháng cáo: các bị cáo C, T, P, T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo H là người dân tộc Mường thuộc hộ gia đình nghèo có đơn xin miễn án phí, nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật; các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ: khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 17; Điều 58; Điều 35 Bộ luật Hình sự. Bị cáo C và H áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Tuyên bố: các bị cáo Nguyễn Văn C, Đào Đình T, Vũ Đình P, Trương Văn H và Nguyễn Văn T phạm tội: "Đánh bạc".

- Xử phạt:

1. Bị cáo Nguyễn Văn C 25.000.000 (hai mươi lăm triệu) đồng nộp ngân sách nhà nước.

2. Bị cáo Đào Đình T 25.000.000 (hai mươi lăm triệu) đồng nộp ngân sách nhà nước.

3. Bị cáo Vũ Đình P 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng nộp ngân sách nhà nước.

4. Bị cáo Trương Văn H 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng nộp ngân sách nhà nước.

5. Bị cáo Nguyễn Văn T 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng nộp ngân sách nhà nước.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng: điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

+ Tịch thu số tiền 6.570.000 đ (sáu triệu năm trăm bẩy mươi nghìn đồng) sung ngân sách Nhà nước (Số tiền này đang lưu giữ tại Kho bạc nhà nước Quảng Ninh theo phiếu nhập kho gói gửi số 1025, theo công văn số 600/CQCSĐT-CSHS ngày 09/5/2022).

+ Tịch thu tiêu hủy: và 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân đã qua sử dụng; 01 chiếc chăn màu trắng họa tiết hoa lá, kích thước khoảng đã qua sử dụng (2x1,8) mét.

(Tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 190/BB-THA ngày 20/7/2022 giữa Công an thành phố Hạ Long và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hạ Long).

- Biện pháp ngăn chăn: áp dụng: điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật tố tụng hình sự. Hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 91, 92, 93, 94, 95 ngày 01/7/2022 và Quyết định tạm hoãn xuất cảnh số 133, 134, 135, 136, 137 ngày 12/8/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh đối với các bị cáo.

- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo: Nguyễn Văn C, Đào Đình T, Vũ Đình P và Nguyễn Văn T, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn) án phí hình sự sơ thẩm. Miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Trương Văn H.

- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo: Nguyễn Văn C, Đào Đình T, Vũ Đình P, Trương Văn H, và Nguyễn Văn T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ