vanban.org

Bản án 151/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Củ Chi, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 17/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đinh Phước H phạm tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt bị cáo Đinh Phước H 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 16/3/2022. Tịch thu tiêu hủy 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu trắng, không rõ mode, số imei: 863654032053092, đã qua sử dụng (Theo Phiếu nhập kho vật chứng số 48/PNK ngày 24 tháng 3 năm 2022). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đinh Phước H phạm tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HỆN CỦ CHI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 151/2022/HS-ST
Ngày: 17-8-2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thanh Hương.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Phước Trinh

Nghề nghiệp: Cán bộ hưu trí

2. Bà Phạm Thị Ngọc

Nghề nghiệp: Cán bộ hưu trí.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Trang, Thư ký Tòa án nhân dân Hện Củ Chi,Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Hện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa Huệ - Kiểm sát viên.

Trong ngày 17 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân Hện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 107/2022/TLST-HS ngày 17 tháng 6 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 151/2022/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 7 năm 2022, Quyết định hoãn phiên tòa số 143/2022/HSST-QĐHPT ngày 28 tháng 7 năm 2022, đối với bị cáo:

Họ và tên: Đinh Phước H, sinh năm 1995; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khóm V, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang; chỗ ở: Số 4C đường số 120, Tổ 12, Ấp 5, xã T, Hện C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; cha: ông Đinh Văn Hh, mẹ: bà Trần Thị T (chết); anh chị em ruột gồm có 02 người kể cả bị cáo; bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 23/01/2017 bị Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 12 tháng, ngày 19/12/2017 chấp hành xong; Ngày 21/02/2019 bị Tòa án nhân Hện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 21 tháng, ngày 30/8/2020 chấp hành xong.

Nhân thân: Ngày 29/8/2014 bị Công an Phường 12, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh lập hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính số tiền 3.500.000đ (Ba T năm trăm nghìn đồng) về hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 16/3/2022 cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1971 (vắng mặt); Địa chỉ: Số 441 đường Nguyễn T, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Nguyễn Đức H, sinh năm 1997 (vắng mặt); Địa chỉ: Số 61 Nhà Chung, thành phố N, tỉnh Nam Định; Tạm trú: Số 12 Nguyễn Thị Tần, Phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

+ Công ty TNHH B; Địa chỉ: Số 12 Nguyễn Thị T, Phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Võ Nguyên Quốc V, sinh năm 1995 (vắng mặt); Địa chỉ: Số 159/44/17 Dạ Nam, Phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

+ Ông Bùi Thanh T, sinh năm 1986 (vắng mặt); Địa chỉ: Số 147/21 Gò Ô Môi, Khu phố 2, phường P, Quận Q, Thành phố Hồ Chí Minh.

+ Ông Lê Trọng N, sinh năm 1976 (vắng mặt); Địa chỉ: Tổ 17, Khu phố 2, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn T và Đinh Phước H quen biết với nhau từ trước và thường hẹn nhau đi ăn uống và quan hệ đồng tính.

Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 24/12/2021, Nguyễn Văn T điều khiển xe gắn máy biển số 60F3-364.66 chở H đi ăn uống, rồi rủ H đi quan hệ đồng tính và hứa sẽ cho H 1.000.000đ (Một T đồng) để tiêu xài thì H đồng ý. Đến 21 giờ 00 phút cùng ngày, T chở H đến nhà nghỉ Phương Quang ở ấp 7A, xã Tân Thạnh Đông, Hện Củ Chi thuê phòng số 110 nghỉ qua đêm. Đến khoảng 07 giờ 00 phút ngày 25/12/2021, T đưa cho H số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) và xe gắn máy biển số 60F3-364.66 để H đi mua đồ ăn sáng. T xuống quầy tiếp tân lấy xe đưa cho H. Sau khi nhận được xe, H nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mang đi cầm lấy tiền mua ma túy về sử dụng và lấy tiền tiêu xài cá nhân. H nhờ Bùi Thanh Thông đem xe trên đi cầm giùm tại dịch vụ Bảo Khang Anh 2 ở địa chỉ số 12 Nguyễn Thị Tần, Phường 3, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh (Do Nguyễn Đức H làm quản lý dịch vụ cầm đồ) với số tiền 15.000.000đ (Mười lăm T đồng). Thông đóng tiền lãi cầm xe là 1.000.000đ (Một T đồng), còn 14.000.000đ (Mười bốn T đồng) Thông đưa cho H. H cho Thông 1.000.000đ (Một T đồng), H lấy 1.000.000đ (Một T đồng) đi mua ma túy tại Quận 7 (không nhớ địa chỉ), còn lại 12.000.000đ (Mười hai T đồng) H tiêu xài hết. Đến ngày 28/12/2021 T gửi đơn tố cáo đến Công an xã Tân Thạnh Đông, Huyện Củ Chi sự việc trên.

Ngày 06/01/2022 Công an phường Phú Mỹ, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện H đi trên đường nên mời về trụ sở, đồng thời thông báo đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Huyện Củ Chi đến dẫn giải H về làm việc. Qua làm việc, H đã thừa nhận hành vi phạm tội như đã nêu ở trên.

Qua test, H dương tính với ma túy tổng hợp.

Kết luận định giá tài sản số 10/KL-HĐĐGTS ngày 17/01/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân Huyện Củ Chi kết luận: 01 xe gắn máy nhãn hiệu Honda Vario màu xanh đen biển số 60F3-364.66 có giá trị 35.000.000đ (Ba mươi lăm T đồng).

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.

Vật chứng thu giữ: 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu trắng, không rõ mode (Vật chứng được nhập kho vật chứng thuộc Đội Cảnh sát Thi hành án hình sự và Hỗ trợ tư pháp Nhà tạm giữ Công an Huyện Củ Chi); đối với xe gắn máy nhãn hiệu Honda Vario màu xanh đen biển số 60F3-364.66, đã trả cho chủ sở hữu ông Nguyễn Văn T.

Về dân sự:

- Bị hại Nguyễn Văn T đã nhận lại tài sản và không yêu cầu H bồi thường thiệt hại.

- Ông Nguyễn Đức H yêu cầu H bồi thường số tiền 14.000.000đ (Mười bốn T đồng), H chưa bồi thường.

- H không yêu cầu Bùi Thanh T trả lại số tiền 1.000.000đ (Một T đồng) tiền công cầm xe cho H.

Tại bản cáo trạng số: 107/CT-VKS ngày 17/6/2022 của Viện kiểm sát nhân dân Hện Củ Chi đã truy tố bị cáo Đinh Phước H về tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo Điểm b Khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Củ Chi giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:

- Áp dụng Điểm b Khoản 1 Điều 175; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Đinh Phước H mức án từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù.

- Về vật chứng: 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu trắng, không rõ mode, không liên quan đến việc phạm tội. Tại phiên tòa bị cáo không yêu cầu nhận lại vì điện thoại đã cũ, bị hư hỏng, không còn giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.

- Về dân sự: Buộc bị cáo bồi thường cho Công ty TNHH b số tiền 14.000.000đ (Mười bốn triệu đồng).

- Đối với Nguyễn Đức H không biết xe gắn máy nhãn hiệu Honda Vario màu xanh đen biển số 60F3-364.66 do Đinh Phước H phạm tội mà có nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Huyện Củ Chi không có cơ sở xử lý đối với H, Viện kiểm sát nhân dân Hện Củ Chi thấy phù hợp.

Đối với Bùi Thanh T đã bỏ trốn khỏi nơi cư trú nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Huyện Củ Chi chưa làm việc được, khi nào làm việc được sẽ xử lý sau, Viện kiểm sát nhân dân Huyện Củ Chi thấy phù hợp.

Đối với Nguyễn Văn T có hành vi đưa tiền cho bị cáo H mua ma túy về sử dụng chung nhưng do không thu được ma túy, dụng cụ sử dụng ma túy nên không có cơ sở xử lý T về hành vi khác, Viện kiểm sát nhân dân Huyện Củ Chi thấy phù hợp.

Tại phiên tòa, bị cáo Đinh Phước H thừa nhận bị Viện kiểm sát nhân dân Huyện Củ Chi truy tố về tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo Điểm b Khoản 1 Điều 175 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng, không oan sai gì cho bị cáo.

Lời nói sau cùng của bị cáo H: Bị cáo đã ăn năn, hối cải về lỗi lầm của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án, Điều tra viên, Kiểm sát viên khi thực hiện hành vi cũng như ban hành các quyết định tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo Đinh Phước H tại phiên tòa hôm nay thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác phản ánh trong hồ sơ vụ án.

Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận: Do cần tiền mua ma túy về sử dụng và tiêu xài cá nhân nên vào ngày 25/12/2021 tại nhà nghỉ Phương Quang ở ấp 7A, xã Tân Thạnh Đông, Hện Củ Chi, khi ông Nguyễn Văn T giao xe gắn máy nhãn hiệu Honda Vario màu xanh đen biển số 60F3-364.66 cho bị cáo Đinh Phước H, bị cáo Đinh Phước H đã lợi dụng sự tin tưởng của ông Nguyễn Văn T để chiếm đoạt chiếc xe trên. Theo Kết luận định giá tài sản số 10/KL-HĐĐGTS ngày 17/01/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân Huyện Củ Chi thì chiếc xe bị cáo H chiếm đoạt có giá trị 35.000.000đ (Ba mươi lăm T đồng).

Bằng hành vi trên, bị cáo H đã phạm vào tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, đúng như cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân Hện Củ Chi đã truy tố.

Hành vi của bị cáo H gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân, làm mất trật tự trị an xã hội, gây dư luận xấu trong nhân dân, mặt khác, bị cáo H có nhân thân xấu, bị cáo H từng bị Công an Phường 12, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt vi phạm hành chính số tiền 3.5000.000đ (Ba T năm trăm nghìn đồng) vào ngày 29/8/2014 về hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác; ngày 23/01/2017 bị Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 12 tháng; ngày 21/02/2019 bị Tòa án nhân dân Huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 21 tháng, do đó cần xử lý bị cáo H bằng một hình phạt nghiêm khắc, cần tiếp tục cách ly bị cáo H ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian mới phát H được tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên xét thấy trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo H thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo H.

Đối với Nguyễn Đức H không biết xe gắn máy nhãn hiệu Honda Vario màu xanh đen biển số 60F3-364.66 do Đinh Phước H phạm tội mà có nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Hện Củ Chi không có cơ sở xử lý đối với H, Viện kiểm sát nhân dân Huyện Củ Chi thấy phù hợp, Hội đồng xét xử không xét.

Đối với Bùi Thanh T đã bỏ trốn khỏi nơi cư trú nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Hện Củ Chi chưa làm việc được, khi nào làm việc được sẽ xử lý sau, Viện kiểm sát nhân dân Hện Củ Chi thấy phù hợp, Hội đồng xét xử không xét.

Đối với Nguyễn Văn T có hành vi đưa tiền cho bị cáo H mua ma túy về sử dụng chung nhưng do không thu được ma túy, dụng cụ sử dụng ma túy nên không có cơ sở xử lý T về hành vi khác, Viện kiểm sát nhân dân Huyện Củ Chi thấy phù hợp, Hội đồng xét xử không xét.

Về trách nhiệm dân sự:

Tại phiên tòa, bị hại ông Nguyễn Văn T vắng mặt nhưng trong hồ sơ thể hiện ông T đã nhận lại chiếc xe bị chiếm đoạt và không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xét.

Bị cáo H không yêu cầu Bùi Thanh T trả lại số tiền 1.000.000đ (Một T đồng) tiền công cầm xe cho bị cáo H, Hội đồng xét xử không xét.

Tại phiên tòa ông Nguyễn Đức H vắng mặt nhưng hồ sơ thể hiện ông H yêu cầu bị cáo H bồi thường số tiền 14.000.000đ (Mười bốn triệu đồng). Xét thấy ông H là người quản lý tại Công ty TNHH b, việc giao dịch cầm xe giữa ông H và Bùi Thanh Thông là do ông H đứng ra giao dịch nhân danh Công ty TNHH B, do đó bị cáo H phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho Công ty TNHH B. Tại phiên tòa, bị cáo H cũng đồng ý bồi thường số tiền 14.000.000đ (Mười bốn triệu đồng) cho Công ty TNHH B nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Về vật chứng:

01 điện thoại di động hiệu Oppo màu trắng, không rõ mode, số imei: 863654032053092, đã qua sử dụng, không liên quan đến việc phạm tội, lẽ ra được trả lại cho bị cáo H nhưng tại phiên tòa, bị cáo H không yêu cầu nhận lại vì điện thoại đã cũ, bị hư hỏng, không còn giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu hủy.

Về án phí:

Xét cần buộc bị cáo H phải nộp tiền án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/10/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điểm b Khoản 1 Điều 175; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Tuyên bố bị cáo Đinh Phước H phạm tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt bị cáo Đinh Phước H 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 16/3/2022.

- Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; ĐiỂm c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu trắng, không rõ mode, số imei: 863654032053092, đã qua sử dụng (Theo Phiếu nhập kho vật chứng số 48/PNK ngày 24 tháng 3 năm 2022).

- Căn cứ Điều 584, Điều 585, Điều 589, Điều 468 Bộ luật Dân sự:

Buộc bị cáo Đinh Phước H pH có trách nhiệm bồi thường cho Công ty TNHH B số tiền 14.000.000đ (Mười bốn T đồng) ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

- Căn cứ vào Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Án phí hình sự sơ thẩm buộc bị cáo Đinh Phước H phải nộp là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

Án phí dân sự sơ thẩm buộc bị cáo Đinh Phước H phải nộp là 700.000đ (Bảy trăm nghìn đồng).

- Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người pH thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ