vanban.org

Bản án 151/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thị Thanh T.

Về quan hệ hôn nhân: chị Huỳnh Thị Thanh T được ly hôn với anh Nguyễn Ngọc S. Giấy chứng nhận kết hôn số số 01/2013 quyển số 01/2013 ngày 14/01/2013 của Ủy ban nhân dân xã I, huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai không còn giá trị pháp lý. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thị Thanh T.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THOẠI SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 151/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 12/9/2022
V/v “Ly hôn, t/c về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Hoài Lâm

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Dương Triết Minh

2. Ông Lý Đạt Thành

- Thư ký phiên tòa: bà Phan Thanh Thúy – Là Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn: bà Nguyễn Thị Lam Em – Kiểm sát viên.

Trong ngày 12 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 370/2022/TLST-HNGĐ ngày 17/6/2022 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 258/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 09/8/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 226/2022/QĐST-HNGĐ ngày 30/8/2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: chị Huỳnh Thị Thanh T, sinh năm 1984.

Địa chỉ: Thôn 1, xã I, huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai.

- Bị đơn: anh Nguyễn Ngọc S, sinh năm 1986

Địa chỉ: ấp H, xã Đ, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

Nguyên đơn chị T có đơn xin vắng mặt. Bị đơn anh S vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện, nguyên đơn chị Huỳnh Thị Thanh T trình bày:

Chị với anh Nguyễn Ngọc S qua tìm hiểu đã tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã I, huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai vào ngày 14/01/2013. Trong quá trình chung sống giữa vợ chồng có nhiều bất đồng về quan điểm trong sống chung, không còn hạnh phúc. Giữa hai vợ chồng không ai quan T đến ai và không còn tin tưởng lẫn nhau. Nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được như mong muốn nên chị T yêu cầu được giải quyết như sau:

+ Về quan hệ hôn nhân: chị Huỳnh Thị Thanh T xin được ly hôn với anh Nguyễn Ngọc S.

+ Về quan hệ con chung: có 01 con chung tên Nguyễn Huỳnh Trà M sinh ngày 06/10/2013. Sau ly hôn chị T có nguyên vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con, không yêu cầu cấp dưỡng.

+ Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu giải quyết.

- Bị đơn anh Nguyễn Ngọc S: Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật cho anh S nhưng từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến nay anh S vắng mặt và không có văn bản nào thể hiện ý kiến đối với yêu cầu của chị T.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:

+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong thời hạn chuẩn bị xét xử:

Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm hiện tại, nhận thấy Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 như: Xác định đúng quan hệ tranh chấp, thụ lý và giải quyết theo quy định tại Điều 28 và Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Quá trình thụ lý Thẩm phán đã thực hiện đầy đủ khi tiến hành lập hồ sơ vụ án, thu thập chứng cứ, lấy lời khai của đương sự, tống đạt và niêm yết hợp lệ các thông báo và quyết định, thời hạn chuẩn bị xét xử đúng theo quy định của pháp luật.

+ Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa:

Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về xét xử sơ thẩm vụ án.

+ Về chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

Bị đơn vắng mặt không có lý do tại phiên tòa nên đã tự từ bỏ quyền của mình.

+ Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 8, 9, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, tuyên: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về hôn nhân: chị Huỳnh Thị Thanh T được ly hôn với anh Nguyễn Ngọc S.

Về con chung: giao cháu Nguyễn Huỳnh Trà M cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh S không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: không xem xét.

Chị T yêu cầu ly hôn nên phải nộp án phí hôn nhân sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

[1.1] Đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn và nuôi con. Bị đơn anh Nguyễn Ngọc S có đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp H, xã Đ, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang, căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn.

Nguyên đơn chị Huỳnh Thị Thanh T có đơn xin vắng mặt. Bị đơn anh Nguyễn Ngọc S đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ quy định tại khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị T và anh S.

Về nội dung tranh chấp:

Chị Huỳnh Thị Thanh T và anh Nguyễn Ngọc S chung sống với nhau từ năm 2013 có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại xã I, huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai; được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 01/2013, quyển số 01/2013 ngày 14/01/2013. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 8 và khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Xét yêu cầu của chị Huỳnh Thị Thanh T, thấy: Theo trình bày của chị T, chị với anh S trong quá trình chung sống luôn xảy ra mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã, vợ chồng không còn quan T lẫn nhau, tình cảm không còn nên không thể tiếp tục chung sống. Tại biên bản xác minh tình trạng hôn nhân ngày 20/7/2022 của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn cũng thể hiện rõ chị T và anh S hiện nay không còn sống chung với nhau. Trong quá trình giải quyết Tòa án có tiến hành thông báo hòa giải nhằm mục đích động viên, hàn gắn nhưng anh S vắng mặt và không có văn bản nào thể hiện nguyện vọng muốn được hàn gắn quan hệ vợ chồng với chị T để xây dựng hạnh phúc gia đình và chăm sóc con. Hội đồng xét xử xét thấy, tình cảm vợ chồng giữa chị T và anh S không còn, tình trạng hôn nhân mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó có đủ căn cứ để áp dụng Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T.

Về quan hệ con chung: Qua chứng cứ chị T cung cấp thì chị T và anh S có 01 con chung tên Nguyễn Huỳnh Trà M sinh ngày 06/10/2013. Tại biên bản lấy ý kiến ngày 03/8/2022 nguyện vọng của cháu My là được sống cùng với mẹ sau khi cha mẹ ly hôn. Trong quá trình giải quyết phía anh S cũng không có văn bản nào thể hiện muốn được chăm sóc nuôi dưỡng con chung. Xét thấy, để đảm bảo ổn định cuộc sống cho cháu My, căn cứ vào điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 giao con chung Trà My cho chị T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh S không phải cấp dưỡng nuôi con do chị T không yêu cầu.

Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu giải quyết.

Từ những phân tích trên chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn là phù hợp.

Về án phí: chị T là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: khoản 1 điều 28, điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 9, điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 và khoản 1 điều 88 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thị Thanh T.

- Về quan hệ hôn nhân: chị Huỳnh Thị Thanh T được ly hôn với anh Nguyễn Ngọc S.

Giấy chứng nhận kết hôn số số 01/2013 quyển số 01/2013 ngày 14/01/2013 của Ủy ban nhân dân xã I, huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai không còn giá trị pháp lý.

- Về quan hệ con chung:

Giao con chung Nguyễn Huỳnh Trà M sinh ngày 06/10/2013 cho chị Huỳnh Thị Thanh T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

Anh Nguyễn Ngọc S không phải cấp dưỡng nuôi con.

Chị T phải tạo điều kiện cho anh S được quyền đến thăm nom con, không ai được ngăn cản.

Vì lợi ích của con, khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con hay việc cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu giải quyết. Tuy nhiên sau khi bản án này có hiệu lực pháp luật nếu có nguyên đơn xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì chị Huỳnh Thị Thanh T và anh Nguyễn Ngọc S phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.

2. Về án phí: chị Huỳnh Thị Thanh T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009324 ngày 17/6/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang nên đã nộp xong.

Chị Huỳnh Thị Thanh T và anh Nguyễn Ngọc S được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã (thị trấn) nơi cư trú để yêu cầu xem xét phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ