- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Tất Quy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Tất Qphạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý".
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 151/2021/HS-ST Ngày: 05 - 11 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lý
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Vũ Tiến Thịnh
2. Bà Nguyễn Thị Thu Trang
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Khánh Linh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa:Bà Hoàng Hà Vĩnh Châm - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 11 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số:147/2021/TLST-HS ngày 06 tháng 10năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 160/2021/QĐXXST-HS ngày 21tháng10năm 2021 đối với bị cáo:
Vũ Tất Q, sinh năm 1968; Nơi cư trú: Số nhà 01/02, đường Đ, tổ 03, phường K, thành phố T, tỉnh T; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 05/10; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Vũ Tất Q1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị T1 (đã chết); Có vợ là Bùi Thị L (đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 1993.
Tiền án: Bản án số 147/2013/HSST ngày 03/9/2013 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/01/2020.
Tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Bản án hình sự sơ thẩm số 70/HSST ngày 17/11/1993 của Tòa án nhân dân thị xã Thái Bình xử 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”.
- Bản án số 60/HSST ngày 22/11/1994 của Tòa án nhân dân thị xã Thái Bình xử phạt 15 tháng tù về tội “Tổ chức dùng chất ma túy”.
- Quyết định số 55 ngày 17/02/1997 của Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Bình về việc đưa vào cơ sở cai nghiện, chữa bệnh giáo dục tập trung thời hạn 06 tháng.
- Bản án số 72/HSST ngày 30/9/1999 của Tòa án nhân dân thị xã Thái Bình xử phạt 30 tháng tù về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Quyết định số 163/QĐ ngày 02/7/2004 của Công an thị xã Thái Bình xử phạt về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
- Bản án số 115/HSST ngày 01/10/2004 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Bản án số 75/2006/HSST ngày 20/6/2006 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Quyết định số 1372/QĐ - UBND ngày 21/5/2008 của Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Bình về việc đưa vào cơ sở giáo dục (vì hành vi trộm cắp tài sản), thời hạn 24 tháng.
- Quyết định số 2438/QĐ - UBND ngày 07/12/2010 của Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Bình về việc đưa vào cơ sở giáo dục (lý do nhiều lần trộm cắp tài sản), thời hạn 24 tháng.
- Quyết định số 1381/QĐ-CT ngày 23/5/2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Bình về việc áp dụng biện pháp đưa vào Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội do nghiện ma túy, thời hạn 12 tháng. Đã hết thời hiệu thi hành.
Bị tạm giữ từ ngày 19/7/2021 đến ngày 21/7/2021 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tạiTrại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình. (Có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Văn Đức B, sinh năm 1978. (Vắng mặt)
Trú tại: Thôn H, xã T2, huyện K1, tỉnh T.
- Người chứng kiến:
+ Anh Vũ Năng T3, sinh năm 1997. (Vắng mặt)
Trú tại: Thôn Q2, xã Đ1, huyện Đ2, tỉnh T.
+ Ông Nguyễn Trung L1, sinh năm 1960. (Vắng mặt)
Trú tại: Số nhà 223, tổ 3, phường K, thành phố T, tỉnh T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 19/7/2021, Vũ Tất Q đi xe ôm từ chỗ ở đến khu vực công viên L2, tổ 11, phường Đ3, thành phố T, tỉnh T với mục đích mua ma túy đá về bán kiếm lời. Đến nơi, Q gặp và mua của một người nam giới khoảng 40 tuổi, không biết tên, địa chỉ01 túi nilon trong suốt có mép cài viền màu đỏ có kích thước khoảng 03cmx05cm, bên trong có 02 túi nilon trong suốt có mép cài, bên trong 02 túi đều có chứa chất dạng tinh thể trong suốt, là ma túy đá với giá 300.000 đồng. Q cất túi ma túy vào trong túi quần bên phải và đi về nhà. Khi về nhà Q cất túi ma túy đá vừa mua được ở dưới chiếu trên giường ngủ của Q. Đến khoảng 13 giờ 20 phút cùng ngày, Văn Đức B đi xe ôm do Vũ Năng T3 điều khiển đến nhà Q. Khi đến nơi B xuống xe, một mình đi lại cổng sắt nhà Q hỏi mua 200.000 đồng ma túy đá, Q đồng ý và đi vào trong nhà lấy từ dưới chiếu 01 túi nilon trong suốt có mép cài viền màu đỏ có kích thước khoảng 03cmx05cm bên trong có 01 túi nilon có mép cài, trong cùng có chứa chất dạng tinh thể trong suốt bán cho B, 01 túi nilon bên trong có chứa ma túy đá để lại dưới chiếu trên giường ngủ. B nhận gói ma túy và đưa lại cho Q 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng thì bị tổ công tác Công an thành phố Thái Bình đến yêu cầu kiểm tra đối với B, Q và T3. Trước sự chứng kiến của ông Nguyễn Trung L1, B tự giác lấy từ túi quần bên phải của B ra giao nộp cho tổ công tác 01 túi nilon trong suốt có mép cài viền màu đỏ, có kích thước khoảng 03cmx05cm bên trong có 01 túi nilon trong suốt có mép cài, trong cùng có chứa chất dạng tinh thể trong suốt, B khai nhận là ma túy đá vừa mua của Q với giá 200.000 đồng. Kiểm tra người B, T3 và xe máy của T3 tổ công tác không phát hiện thu giữ gì. Kiểm tra người Q, Q tự giác lấy từ túi quần bên trái của Q ra giao nộp cho tổ công tác 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng, Q khai nhận là số tiền do Q vừa bán 01 túi ma túy đá cho B mà có. Cơ quan Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và biên bản niêm phong vật chứng theo quy định của pháp luật.
Cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Bình khám xét khẩn cấp chỗ ở của Vũ Tất Q. Qua khám xét thu dưới chiếu cuối giường ngủ của Q 01 túi nilon trong suốt có mép cài, bên trong có chứa chất dạng tinh thể trong suốt. Q khai nhận là ma túy đá của Q cất giấu để bán kiếm lời.
Tại Bản kết luận giám định số 280/KLGĐMT - PC09 ngày 20/7/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận:
- Mẫu vật quản lý của Văn Đức B gửi giám địnhlà ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng 0,0726 gam (không phẩy không nghìn bảy trăm hai mươi sáu gam).
- Mẫu vật quản lý khi khám xét chỗ ở của Vũ Tất Q gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng 0,2947 gam (không phẩy hai nghìn chín trăm bốn mươi bảy gam).
Bản Cáo trạng số 150/CT-VKSTPTB ngày 05 tháng 10 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình truy tố ra trước Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình để xét xử đối với Vũ Tất Q về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Vũ Tất Q khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình giữ nguyên quan điểm đã truy tố trong bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Vũ Tất Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự: Đề nghị xử phạt bị cáo Vũ Tất Qmức án từ 02 năm 09 tháng đến 03 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ.
Phạt bổ sung bị cáo từ 05 triệu đồng đến 07 triệu đồng.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy hoàn lại sau giám định được niêm phong trong 02phong bì bên ngoài ghi số 280/KLGĐMT-PC09.Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 200.000 đồng.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình đã truy tố và không có ý kiến tranh luận đối với bản luận tội của Kiểm sát viên.
Bị cáo Vũ Tất Qnói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Vũ Tất Q khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong vật chứng, kết luận giám định, lời khai người chứng kiến và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:Vào hồi 13 giờ 25 phút ngày 19/7/2021 tại số nhà 01/02, đường Đ, tổ 03, phường K, thành phố T, tỉnh T, Vũ Tất Q đã có hành vi bán trái phép 0,0726 gam Methamphetamine cho Văn Đức B với giá 200.000 đồng. Ngoài ra, Vũ Tất Q còn cất giấu 0,2947 gam Methamphetamine dưới chiếu tại giường ngủ của Q, mục đích để bán kiếm lời.
Hành vi trên của Vũ Tất Q đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”,tội phạm và hình phạtquy định tại khoản 1 Điều 251Bộ luật Hình sự:
Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy:
1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
...
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Hành vi của Vũ Tất Qlà nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quy định quản lý chất gây nghiện của Nhà nước, ma túy là loại chất gây nghiện gây tác hại xấu cho sức khỏe con người, là nguyên nhân phá hoại hạnh phúc của bao gia đình và còn phát sinh các tệ nạn xã hội khác, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội. Bản thân bị cáo là người đã thành niên, có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị xử phạt về các hành vi vi phạm pháp luật, bị cáo nhận thức đầy đủ về tính chất nguy hiểm cũng như hậu quả của hành vi do mình thực hiện nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình truy tố đối với bị cáo Vũ Tất Qvề tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Bị cáo Vũ Tất Q phạm tội lần này khi Bản án số 147/2013/HSST ngày 03/9/2013 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bìnhchưa được xóa án tích nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự là “tái phạm”.Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để cải tạo, giáo dục bị cáo, góp phần đấu tranh phòng ngừa chung.
Bị cáo Vũ Tất Q bán ma túy với mục đích kiếm lời nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 251Bộ luật Hình sự.
Về xử lý vật chứng: Theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Số ma túycòn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ, lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy. Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 200.000 đồng do phạm tội mà có.
Về nguồn gốc số ma túy: Bị cáo Vũ Tất Qkhai mua của một người nam giới khoảng 40 tuổi, không biết tên và địa chỉ tại khu vực công viên L2, tổ 11, phường Đ3, thành phố T, tỉnh T nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.
Đối với Văn Đức B là người đã mua ma túy của Vũ Tất Q mục đích để sử dụng cho bản thân, khối lượng ma túy chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Ngày 09/8/2021,Công an thành phố Thái Bình đã quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Văn Đức B.
Đối với Vũ Năng T3 là người lái xe ôm chở Văn Đức B. Tuy nhiên anh T3 không biết việc B đi mua ma túy nên Cơ quan điều tra không có hình thức xử lý đối với T3.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1, khoản 5Điều 251, điểm s khoản 1Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 47, Điều 50 Bộ luật Hình sự, Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Tất Qphạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý".
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Vũ Tất Q 03 (ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 19/7/2021).
Phạt bổ sung bị cáo 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) sung vào ngân sách Nhà nước.
3.Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy hoàn lại sau giám định được niêm phong trong 02 phong bì số 280/KLGĐMT - PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình.
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
(Các vật chứng, tài sản trên đã được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 06/10/2021).
4. Về án phí: Bị cáo Vũ Tất Qphải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 05/11/2021.Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình; - Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình; - Cơ quan Thi hành án hình sự Công an thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình; - Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình; - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình; - Sở tư pháp tỉnh Thái Bình; - Lưu hồ sơ vụ án; VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Lý |