vanban.org

Bản án 151/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1 - Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Phạm Thị Anh D về việc xin ly hôn anh Tăng Hoàng Duy T.

2 - Về con chung: Giao cháu Tăng Hoàng Bảo Tr, sinh ngày 26/4/2014 cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng. Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở. 3 - Về tài sản chung: Không đặt ra xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? 1 - Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Phạm Thị Anh D về việc xin ly hôn anh Tăng Hoàng Duy T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ C
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 151/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 24 – 12 – 2021
V/v xin ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ C

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Hân

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Hoàng Kha

2. Ông Võ Sĩ Hùng

- Thư ký phiên toà: Bà Ngô Thị Thắm, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố C, tỉnh Cà Mau.

Ngày 24 tháng 12 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố C, tỉnh Cà Mau, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 235/2021/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2021 về việc "Xin ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 508/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 6 năm 2021 giữa các đương sự.

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Anh D, sinh năm: 1980.

(có mặt)

Đăng ký thường trú: Đường PHT, khóm B, phường D, thành phố , tỉnh Cà Mau.

Địa chỉ cư trú: Ấp D, xã TB, huyện TB, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Anh Tăng Hoàng Duy T, sinh năm: 1969.

(vắng mặt)

Địa chỉ cư trú: Đường LTK, khóm G, phường F, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, chị Phạm Thị Anh D trình bày và xác định yêu cầu như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Tăng Hoàng Duy T xác lập quan hệ vợ chồng năm 2013, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường G, thành phố C, tỉnh Cà Mau vào ngày 11/6/2013. Thời gian chung sống, chị và anh T phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Anh T không lo cho cuộc sống gia đình. Chị đã khuyên nhũ, nhắc nhở nhiều lần nhưng anh T không thay đổi. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Chị và anh T không còn sống chung nhà và đã ly thân từ tháng 5/2020 cho đến nay. Anh T có đến thăm con chung nhưng anh T không thuyết phục chị về sống với anh. Mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn anh Tăng Hoàng Duy T.

- Về con chung: Chị và anh T có 01 người con chung tên Tăng Hoàng Bảo T, sinh ngày 26/4/2014, đang sống chung với chị. Chị yêu cầu nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng.

- Về tài sản chung: Không có.

- Về nợ chung: Không có.

Đối với anh Tăng Hoàng Duy T: Mặc dù anh Tính đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án và Thông báo cho anh T đến Tòa án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; được tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Giấy triệu tập anh T đến Tòa án để tham gia phiên tòa xét xử vụ án nhiều lần nhưng anh T vẫn không đến Tòa án theo thông báo, giấy triệu tập của Tòa án, cũng không gửi cho Tòa án văn bản nêu ý kiến của anh đối với yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Anh D.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Về tố tụng dân sự: Quan hệ hôn nhân giữa chị Phạm Thị Anh D và anh Tăng Hoàng Duy T có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, nay chị D xin ly hôn. Do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân. Anh T cư trú tại thành phố C nên Tòa án nhân dân thành phố C thụ lý giải quyết. Anh T đã được thông báo đến Tòa án tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh T vắng mặt. Vụ án không hòa giải được, Tòa án đưa vụ án ra xét xử. Anh T đã được triệu tập hợp lệ đến Tòa án để tham gia phiên tòa xét xử đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh T theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy chị Phạm Thị Anh D và anh Tăng Hoàng Duy T chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật nên hôn nhân của chị D và anh T được pháp luật công nhận. Chị D xác định thời gian chị và anh T chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn trầm trọng không hòa giải được, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, chị và anh T đã ly thân. Không tiếp tục chung sống đời sống vợ chồng được với nhau nên chị xin ly hôn. Đối với anh T: Anh T đã được thông báo đến Tòa án để tham gia hòa giải, được triệu tập hợp lệ đến Tòa án tham gia phiên tòa xét xử nhiều lần nhưng anh T vẫn vắng mặt không rõ lý do, anh T cũng không gửi cho Tòa án văn bản nêu ý kiến của anh đối với yêu cầu khởi kiện của chị D. Điều đó thể hiện anh Tính không có ý thức hàn gắn quan hệ vợ chồng với chị D. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn của chị D và anh T xảy ra nhưng anh, chị không có giải pháp giải quyết được mâu thuẫn, hàn gắn mối quan hệ vợ chồng. Anh T và chị D đã ly thân, đời sống chung không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu của chị Duy về việc ly hôn anh T.

Về con chung: Chị D xác định chị và anh T có 01 người con chung tên Tăng Hoàng Bảo T, sinh ngày 26/4/2014. Chị D yêu cầu nuôi con, cháu T có nguyện vọng sống chung với chị D nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị D, giao cháu T cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng. Chị D không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung: Chị D xác định chị và anh T không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nợ chung: Chị D xác định không có. Không ai yêu cầu về nợ chung nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình: Chị D là nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình;

- Căn cứ Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1 - Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Phạm Thị Anh D về việc xin ly hôn anh Tăng Hoàng Duy T.

2 - Về con chung: Giao cháu Tăng Hoàng Bảo Tr, sinh ngày 26/4/2014 cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng. Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.

3 - Về tài sản chung: Không đặt ra xem xét.

4 - Về nợ chung: Không đề cập giải quyết.

5 - Án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân và Gia đình: Chị Phạm Thị Anh D phải chịu 300.000 đồng. Ngày 12/5/2021, chị Phạm Thị Anh D đã nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố C (biên lai số 0001057) được đối trừ, chuyển thu nộp ngân sách Nhà nước.

6 - Về quyền kháng cáo: Chị Phạm Thị Anh D có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Tăng Hoàng Duy T vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ