- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi phạm quy định giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? Chấp chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 260 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 151/2020/HS-PT Ngày: 25-11- 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Minh Châu.
Các Thẩm phán:
1.Bà Phan Thị Mai Dung
2.Bà Võ Thị Hồng Mai
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Cẩm Vân, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:.Ông Nguyễn Thành Lang, Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 11 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 39/2020/TLPT-HS ngày 12 tháng 3 năm 2020 đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 71/2020/HS-ST ngày 04 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Tây Ninh.
Bị cáo kháng cáo: Nguyễn Văn L, sinh năm: 1997; tại tỉnh Tây Ninh. Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi cư trú hiện nay: ấp T, xã Tâ huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: làm mướn; trình độ học vấn: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: không có; con ông Nguyễn Văn Dẹn, sinh năm 1977 và bà Chàm A Si Pá; vợ, con: không có; tiền án, tiền sự: không có; nhân thân: Bị cáo chưa bị xử lý vi phạm hành chính và chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự; đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Anh Huỳnh Thanh U, sinh năm 1993 (chết).
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Huỳnh Văn B, sinh năm 1972; địa chỉ: ấp B, xã H, huyện Ch, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Trần Thị L, sinh năm 1993; địa chỉ: ấpT, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 24-4-2020, bị cáo có giấy phép lái xe, sau khi uống rượu, đã điều khiển xe mô tô biển số 70H7- 8627 chở anh Huỳnh Thanh U đi từ khu dân cư Đồng Kèn 2; thuộc xã Tân Thành, huyện T, Tây Ninh về hướng chợ Tân Thành. Khi đến khu vực ngã tư đường đất đỏ thuộc Tổ 5, ấp Đồng Kèn 2, xã Tân Thành; bị cáo thiếu quan sát và không làm chủ được tay lái, đụng vào phía ngoài bên phải của ống xả xe mô tô biển số 70K1 – 397.13 do bà Trần Thị L điều khiển đã qua gần hết ngã tư theo hướng từ ngã ba Đồng Kèn 2, về rừng phòng hộ Dầu Tiếng; hai xe đều ngã, bị cáo, anh Tuấn và chị Liên té xuống đường; anh Tuấn bị thương nặng đưa cấp cứu; điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Tây Ninh; đến ngày 26-4-2020, anh Tuấn tử vong. Chị Liên thương tích nhẹ từ chối giám định thương tích.
Biên bản kiểm tra nồng độ cồn ngày 24-04-2020; bị cáo 0,133 miligam/lít khí thở.
Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 68/2020/TT ngày 12-5-2020 của Trung tâm pháp y Sở y tế Tây Ninh, kết luận nguyên nhân chết của anh Huỳnh Thanh U do chấn thương sọ não.
Vật chứng: có bản kê chi tiết kèm theo.
Trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho gia đình anh Tuấn số tiền 50.000.000 đồng; đại diện hợp pháp của anh Tuấn có đơn bãi nại không yêu cầu bồi thường tiếp; bị cáo bồi thường cho chị Trần Thị L số tiền 2.000.000 và không yêu cầu bồi thường tiếp.
Bản án Hình sự sơ thẩm số: 71/2020/HS-ST ngày 04 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Tây Ninh quyết định:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; 38; 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015; sửa đổi bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 02 (Hai) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
2. Vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
+ Ghi nhận Cơ quan điều tra Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh đã trả cho ông Huỳnh Văn B 01 (một) xe mô tô biển số 70H7-8627, số khung 002638, số máy 00002636.
+ Trả cho chị Trần Thị L: 01 (một) xe mô tô mang biển số 70K1-397.13, số máy 0006130, số máy 006054.
+ Lưu vào hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD ghi nội dung làm việc của Cơ quan cảnh sát điều tra làm việc với bị cáo Nguyễn Văn L và 01 đĩa DVD trích xuất nội dung ghi hình từ Camera số 11 của Ủy ban nhân dân xã Tân Thành, huyện T, tỉnh Tây Ninh.
+ Tịch thu tiêu hủy vật chứng sau: 01 (một) áo thun màu xanh, trên áo có chữ BURBERRY, vai trái của áo bị rách và 01 (một) quần jean dài màu xanh; theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 24-8-2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Tây Ninh.
3. Trách nhiệm dân sự: Ghi nhận ông Huỳnh Văn B, chị Trần Thị L không yêu cầu bị cáo bồi thường tiếp.
Bản án sơ thẩm đã quyết định án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 15-9-2020, bị cáo và ông Huỳnh Văn B đều có đơn kháng cáo.
Bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo với những lý do: Chưa tiền án, tiền sự; thành khẩn khai báo, khắc phục hậu quả; đại diện bị hại có đơn bãi nại. Bị cáo lao động chính trong gia đình. Cha bị bệnh tim, mẹ đẻ không lao động được; bị cáo đang nuôi dưỡng bà ngoại bị tai biến
Ông Huỳnh Văn B yêu cầu cho bị cáo được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không cung cấp tài liệu chứng cứ, bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Ông Huỳnh Văn B yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh đề nghị chấp nhận kháng cáo của bị cáo; căn cứ khoản 1 Điều 355, 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự; sửa bản án sơ thẩm; xử phạt bị cáo 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” và thời gian thử thách theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không tranh luận.
Lời nói sau cùng của bị cáo xin được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tố tụng: Những hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm đều hợp pháp.
Hành vi phạm tội của bị cáo: Vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 24-4-2020, bị cáo có nồng độ cồn 0,133 miligam/lít khí thở, đã điều khiển xe mô tô biển số 70H7- 8627, có giấy phép lái xe, chở bị hại Huỳnh Thanh U đi từ khu dân cư Đồng Kèn 2; thuộc xã Tân Thành, huyện T, Tây Ninh đến khu vực ngã tư đường đất đỏ; thuộc Tổ 5, ấp Đồng Kèn 2; thiếu quan sát, đụng vào phía ngoài bên phải của ống xả xe mô tô biển số 70K1 – 397.13 của chị Trần Thị L điều khiển xe mô tô đã qua gần hết ngã tư theo hướng từ ngã ba Đồng Kèn 2, về rừng phòng hộ Dầu Tiếng; hai xe đều ngã, bị cáo, anh Tuấn và chị Liên té xuống đường; bị hại Tuấn bị thương nặng, được đưa đi cứu, đến ngày 26-4-2020, bị hại Tuấn tử vong do chấn thương sọ não; chị Liên thương tích nhẹ, có văn bản không yêu cầu giám định thương tích.
Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự đúng pháp luật.
Xét kháng cáo của bị cáo xin được hưởng án treo thấy rằng:
Khi quyết định hình phạt, cấp sơ thẩm đã xem xét những tình tiết giảm nhẹ hình phạt như bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại; đại diện hợp pháp của bị hại có đơn bãi nại; nên áp dụng điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo là có căn cứ.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo xin được hưởng án treo nhưng không cung cấp tình tiết giảm nhẹ mới và với tính chất của vụ án là nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; bị cáo biết Nhà nước nghiêm cấm khi đã sử dụng rượu bia không tham gia giao thông, nhưng bị cáo vẫn điều khiển xe khi đã uống rượu, chạy với tộc độ nhanh trên 60km/h là ý thức xem thường pháp luật và tính mạng của người khác, gây tai nạn, anh Tuấn té, chấn thương sọ não và tử vong; do đó không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và không chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên cho bị cáo được hưởng án treo.
Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, không có tình tiết tăng nặng, cấp sơ thẩm chưa xem xét và đại diện bị hại tha thiết xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; Hội đồng xét xử chấp nhận 01 phần kháng cáo của bị cáo và chấp nhận kháng cáo của đại diện bị hại; giảm nhẹ 01 phần hình phạt đối với bị cáo.
Án phí phúc thẩm hình sự: Căn cứ Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ quốc hội ngày 30 tháng 12 năm 2016; bị cáo không phải chịu.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Chấp chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo.
Chấp nhận kháng cáo của bị hại.
Sửa Bản án Hình sự sơ thẩm số: 71/2020/HS-ST ngày 04 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Tây Ninh.
1. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; 54; 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 01 (một) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
2. Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo không phải chịu.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh; - TAND H T; - Công an H T ; - Chi cục THADS H T ; - Phòng lý lịch STP. TTN; - Phòng KTNV TAND tỉnh; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu tập án HSPT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Thanh Minh Châu |