vanban.org

Bản án 151/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La Tuyên án 22/10/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1- Tuyên bố: Bị cáo Vàng A S (tên gọi khác Vàng A T ) phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Xử phạt bị cáo Vàng A S ( Vàng A T ) 06 năm 06 tháng tù ( sáu năm sáu tháng tù ) - Thời hạn thụ hình tính từ ngày tạm giữ, giam là ngày 28/4/2018. 2- Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vàng A So tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1- Tuyên bố: Bị cáo Vàng A S (tên gọi khác Vàng A T ) phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÔNG MÃ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH SƠN LA
Bản án số: 151/2018/HSST
Ngày 22 tháng 10 năm 2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Bá Toàn

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Dƣơng Hữu Hảo

2. Bà Lƣờng Thị Khuyển

- Thư ký phiên toà:

Bà Hoàng Thị Nhung - Thƣ ký Toà án nhân dân huyện Sông Mã.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên toà:

Bà Lò Thị Thanh - Kiểm sát viên

Ngày 22 tháng 10 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sông Mã xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 117/2018/HSST ngày 27 tháng 7 năm 2018, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 137A/2018/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2018 đối với bị cáo:

Họ và tên: Vàng A S ( tên gọi khác: Vàng A T ) - Sinh năm 1964; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: bản T, xã M, huyện S, Sơn La; Dân tộc: Mông; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hóa: Không biết chữ; Đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông Vàng A M và bà Sộng Dạ M (đều đã chết); Bị cáo sống chung nhƣ vợ chồng với Sộng Thị T và có 08 con, con lớn sinh năm 1986, nhỏ sinh năm 2003; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, giam từ ngày 28/4/2018 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Hồi 16h00’ ngày 28/4/2018 Tổ công tác Công an huyện Sông Mã phối

hợp vớ i Đồn biên phòng Mƣờng Cai làm nhiệm vụ tại bản Nà Ngần, xã Mƣờng Hung, huyện Sông Mã phát hiện bắt quả tang Vàng A S đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ gồm 02 túi nilon màu xanh, trong đó túi thứ nhất chứa 100 viên nén màu hồng, túi thứ hai chứa 97 viên nén màu hồng và 02 viên nén màu xanh (S khai nhận là Hồng phiến). Ngoài ra còn tạm giữ của S 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Future BKS 26H5-5383, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, 01 mũ bảo hiểm nhãn hiệu Asia màu đen.

Ngày 02/5/2018 đã tiến hành mở niêm phong, cân tịnh, trích mẫu vật chứng giám định. Kết quả: 100 viên nén màu hồng chứa trong túi nilon thứ nhất có tổng khối lƣợng 9,66 gam, đã sử dụng 05 viên có tổng khối lƣợng 0,46 gam làm mẫu giám định ký hiệu S3, 95 viên nén màu hồng còn lại có tổng khối lƣợng 9,20 gam ký hiệu S4 lƣu kho vật chứng; 97 viên nén màu hồng chứa trong túi nilon thứ hai có tổng khối lƣợng 9,56 gam, đã sử dụng 05 viên có tổng khối lƣợng 0,45 gam làm mẫu giám định ký hiệu S5, 92 viên nén màu hồng còn lại có tổng khối lƣợng 9,11 gam lƣu kho vật chứng ký hiệu S6; 02 viên nén màu xanh có tổng khối lƣợng 0,18gam, đã sử dụng hết làm mẫu giám định ký hiệu S7.

Tại kết luận giám định số 564 ngày 11/5/2018 của Phòng ky thuâ ̣̃

t hinh sƣ̣

̀ Công an tinh Sơn La kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu S3, S5, S7 là ma túy,̉ loại chất Methamphetamine, khối lƣợng của mẫu gửi giám định là S3=0,46 gam, S5=0,45 gam, S7=0,18 gam. Tổng khối lƣợng ma túy thu giữ là 19,40 gam loại Methamphetamine”.

Quá trình điều tra Vàng A S khai nhận: Khoảng 10h45’ ngày 28/4/2018 S điều khiển xe mô tô BKS 26H5-5383 từ nhà ở bản T, xã M, huyện Sđi lên bản Huổi Hin, xã Mƣờng Hung, huyện Sông Mã để tìm mua ma túy sử dụng, đến nơi S vào nhà một ngƣời đàn ông dân tộc Mông tên Thào A P nhƣng P không có ở nhà, S gọi điện thoại cho P hỏi mua ma túy thì đƣợc P bảo S ở nhà đợi. Khoảng 20 phút sau P về nhà, S đƣa cho P số tiền 2.800.000đ nói mua Hồng phiến, P nhận tiền rồi đƣa cho S 01 túi nilon màu xanh bên trong chứa Hồng phiến, S nhận rồi lấy ra 01 viên và sử dụng luôn, sử dụng xong S xin P 01 túi nilon màu xanh rồi chia số Hồng phiến còn lại ra làm 02 túi giấu trong lớp xốp của mũ bảo hiểm rồi điều khiển xe đi về, khi về đến khu vực bản Nà Ngần, xã Mƣờng Hung, huyện Sông Mã thì bị Tổ công tác Công an huyện Sông Mã phối kết hợp với Đồn biên phòng Mƣờng Cai phát hiện bắt quả tang.

Do có hành vi nêu trên tại bản Cáo trạng số 81/CT-VKSSM ngày 27 tháng 7 năm 2018 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã đã truy tố ra trƣớc Toà án nhân dân huyện Sông Mã để xét xử Vàng A S về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm g khoản 2 Điều 249 BLHS.

Tại phiên toà kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS xử phạt từ 6,5 năm - 07 năm tù. Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS tịch thu tiêu hủy số ma túy và vật chứng liên quan, tịch thu sung công quỹ điện thoại di động, tịch thu tiêu hủy 01 chiếc mũ bảo hiểm; Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Buộc bị cáo chịu án phí theo quy định.

Tại phiên tòa khi đƣợc nói lời sau cùng bị cáo thừa nhận hành vi của mình đã vi phạm pháp luật, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo đƣợc hƣởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy nhƣ sau:

Về hành vi, quyết định của cơ quan, ngƣời tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Sông Mã, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về các chứng cứ xác định tội danh: Hành vi phạm tội của bị cáo đƣợc chứng minh bằng các căn cứ sau:

- Biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang lập vào hồi 16h10 ngày 28/4/2018, bắt quả tang Vàng A So có hành vi cất dấu ma túy;

- Vật chứng bị thu giữ của Vàng A So gồm 02 túi nilon màu xanh, trong đó túi thứ nhất chứa 100 viên nén màu hồng, túi thứ hai chứa 97 viên nén màu hồng và 02 viên nén màu xanh;

- Kết luận giám định số 564 ngày 11/5/2018 của Phòng ky thuâ ̣̃

t hinh sƣ̣

̀ Công an tinh Sơn La , kết luận giám định số ma túy đã thu của bị cáo, đã kết̉ luận:“ Mẫu gửi giám định ký hiệu S3, S5, S7 là ma túy, loại chất Methamphetamine, khối lƣợng của mẫu gửi giám định là S3=0,46 gam, S5=0,45 gam, S7=0,18 gam. Tổng khối lƣợng ma túy thu giữ là 19,40 gam loại Methamphetamine”.

- Lời khai nhận tội của bị cáo và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Tại phiên toà bị cáo Vàng A S thừa nhận toàn bộ hành vi, bị cáo vẫn giữ nguyên lời khai nhƣ đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Mã, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án và nhất trí với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã. Việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc bị cáo đã thực hiện. Bị cáo cũng khẳng định bị cáo mua ma túy về chỉ với mục đích để sử dụng, ngoài ra không có mục đích nào khác. Nhƣ vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 BLHS là đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật.

Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Do nghiện ma túy, ngày 28/4/2018 bị cáo Vàng A S đã mua đƣợc 01 túi viên Hồng phiến ở bản Huổi Hin, xã Mƣờng Hung, huyện Sông Mã mục đích mang về sử dụng dần, sau khi mua đƣợc ma túy S đã sử dụng 01 viên, số Hồng phiến còn lại S chia thành 02 túi cất vào trong mũ bảo hiểm đang đội rồi điều khiển xe đi về, khi về đến khu vực bản Nà Ngần, xã Mƣờng Hung, huyện Sông Mã thì bị bắt quả tang, số ma túy bị thu giữ là 19,40 gam Methamphetamine cùng một số đồ vật, tài sản liên quan.

Hành vi tàng trữ 19,40gam Methamphetamine với mục đích để bản thân sử dụng của Vàng A S đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, tội phạm và hình phạt đƣợc quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, bị cáo nhận thức đƣợc việc Tàng trữ chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhƣng đã bất chấp pháp luật cố tình thực hiện tội phạm, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nƣớc, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, làm ảnh hƣởng đến trật tự trị an ở địa phƣơng, là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác, gây bức xúc trong xã hội.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải - là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Ngoài ra bị cáo có bố đẻ đƣợc tặng thƣởng Huân chƣơng kháng chiến, có em trai là liệt sĩ - là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.

Cần căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; để có một mức án tƣơng xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm trừng phạt, cải tạo, giáo dục bị cáo thành ngƣời có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật, răn đe, phòng ngừa và thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tệ nạn ma tuý tại địa phƣơng.

Về hình phạt bổ sung: Cơ quan điều tra đã làm rõ gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, vì vậy Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Đối với số ma túy và vật chứng liên quan cần tịch thu tiêu hủy; đối với chiếc điện thoại là công cụ thực hiện tội phạm cần tịch thu sung công quỹ.

Về vấn đề khác liên quan đến vụ án: Đối với ngƣời đàn ông dân tộc Mông tên Thào A P ở bản Huổi Hin, xã Mƣờng Hung, huyện Sông Mã bị cáo khai đã bán ma túy cho bị cáo, quá trình điều tra xác minh, tại bản Huổi Hin không có ai tên là Thào A P, có một ngƣời tên Thọ Bả P, nhƣng khi cho S nhận dạng ảnh của Thọ Bả P thì S khẳng định không phải là ngƣời đã bán ma túy cho S, tiến hành lấy lời khai Thọ Bả P cũng không thừa nhận việc bán ma túy cho S nên không có căn cứ để điều tra, mở rộng vụ án.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Future BKS 26H5-5383 phƣơng tiện bị cáo thực hiện tại phạm, quá trình điều tra xác định đƣợc đăng ký xe mang tên Nguyễn Văn V ở bản H, xã N, huyện S, V đã bán cho Phạm Văn H ở cùng bản, sau đó H bán chiếc xe cho Vàng A C (con trai Vàng A S) vào năm 2013, khi S sử dụng chiếc xe làm phƣơng đi mua ma túy thì C không biết, nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Sông Mã đã trả lại cho chủ sở hữu là phù hợp.

Về án phí: Tài liệu trong hồ sơ thể hiện gia đình bị cáo là hộ nghèo, theo quy định nên theo quy định tại điểm đ Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội thì thuộc trƣờng hợp đƣợc miễn tiền án phí, do vậy cần miền khoản tiền án phí hình sự cho bị cáo.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1- Tuyên bố: Bị cáo Vàng A S (tên gọi khác Vàng A T ) phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Vàng A S ( Vàng A T ) 06 năm 06 tháng tù ( sáu năm sáu tháng tù ) - Thời hạn thụ hình tính từ ngày tạm giữ, giam là ngày 28/4/2018.

2- Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 18,31gam Methamphetamine đƣợc đựng trong phong bì niêm phong.

+ 01 (một) mũ bảo hiểm hiệu Asia màu đen.

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nƣớc: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen, số IMEI 867800010863010.

( Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/7/2018 giữa Công an và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Mã ).

3- Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; điểm đ Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội:

Miễn nộp khoản tiền án phí hình sự cho bị cáo.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 22/10/2018 ./.

Cỡ chữ