- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa anh T và anh P"
- Tòa quyết gì? Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 10/2018/DS-ST ngày 28/02/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
- Căn cứ chính? Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 151/2018/DS-PT Ngày: 28-6-2018 V/v Tranh ch p về dân sự, hợp đồng vay tài sản. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Phương.
Các Thẩm phán:
Bà Nguyễn Huỳnh Thị Hương Thủy.
Bà Nguyễn Thị Mai.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thùy Vân – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp: Bà Nguyễn Ngọc Trang – i m sát viên tham gia phiên tòa.
Trong các ngày 07/6/2018 và ngày 28/6/2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 56/2018/TLPT-DS, ngày 19 tháng 4 năm 2018, về vi c Tranh ch p về dân sự, hợp đồng vay tài sản” .
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 10/2018/DS-ST ngày 28/02/2018 của Toà án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp ị kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 146/2018/QĐ-PT, ngày 18 tháng 5 năm 2018, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Dương Huỳnh T, sinh năm 1978 (có mặt);
Địa chỉ: Đường Nguyễn Đình C, Phường 2, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
2. Bị đơn: Phạm Thành P, sinh năm 1965 (vắng mặt);
Địa chỉ: Số 66/6, Lô B, hu dân cư S, Tổ 19, hóm 2, Phường 1, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Thị iều Linh, sinh năm 1967 (vắng mặt);
Địa chỉ: Số 66/6, Lô B, hu dân cư S, Tổ 19, hóm 2, Phường 1, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
4. Vi n ki m sát kháng nghị : Vi n trưởng Vi n ki m sát nhân dân thành phố Cao Lãnh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn Dương Huỳnh T trình bày:
Vào ngày 09-01-2017, ông Phạm Thành P có làm biên nhận mượn của anh Dương Huỳnh T số tiền là 2.000.000.000 đồng đ trả nợ vay Ngân hàng (trả nợ cho Doanh nghi p tư nhân do ông P làm chủ doanh nghi p) và hẹn đến ngày 11-01-2017 sẽ hoàn trả lại nhưng đến nay vẫn chưa thanh toán cho anh T, tiền vay Ngân hàng ông P cũng không trả. hi mượn tiền, hai ên có làm iên nhận, trong iên nhận ông P có làm cam kết ảo đảm ằng các tài sản gồm:
+ Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t và quyền sở hữu nhà ở; số chứng nhận BC697012; thửa đ t số 375; tờ ản đồ số 29, do Ủy an nhân dân thành phố Cao Lãnh c p ngày 28-3-2011;
+ Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số AC898893; thửa đ t số 180; tờ ản đồ số 29, do Ủy an nhân dân thị xã Cao Lãnh c p ngày 05-10-2005;
+ Gi y chứng nhận quyền sở hữu nhà ở số 878662986600547; thửa đ t số 180-181; tờ ản đồ số 29, do Ủy an nhân dân thị xã Cao Lãnh c p ngày 07-11-2006, ông P có giao cho anh T 04 ản photocopy.
Về phần tài sản của ông P đã cam kết đ ảo đảm cho khỏan nợ nêu trên, do là chỗ quen iết nên anh T tin tưởng, đồng thời tài sản đang thế ch p tại Ngân hàng nên anh T chỉ yêu cầu ông P cung c p ản sao gi y tờ về tài sản, không làm hợp đồng thế ch p vì tổng giá trị những tài sản này ước tính có giá trị đủ đảm ảo cho số nợ vay Ngân hàng và nợ đã mượn của anh T.
Hi n nay, các gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t, quyền sở hữu nhà ở đang thế ch p tại Ngân hàng Nông nghi p và Phát tri n nông thôn Vi t Nam – Chi nhánh thành phố Cao Lãnh.
Do là chỗ quen iết nên anh T cho ông P mượn tiền mà không tính lãi, nhưng đã nhiều lần anh T tìm kiếm ông P đ yêu cầu giải quyết khoản nợ nêu trên nhưng ông P cố tình lẫn tránh vi c trả nợ và không hợp tác.
Tại phiên tòa sơ thẩm anh T yêu cầu ông Phạm Thành P và bà Nguyễn Thị iều L trả nợ cho anh T số tiền là 2.000.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.
- Bị đơn Phạm Thành P và người liên quan Nguyễn Thị iều L vắng mặt không có văn ản ý kiến, không giao nộp chứng cứ.
Bản án sơ thẩm số 10/2018/DS-ST ngày 28/02/2018 và Quyết định số 03/2018/QĐST-DS ngày 21/3/2018 về sửa chữa ổ sung ản án của Toà án nhân dân thành phố Cao Lãnh tuyên xử:
- Ch p nhận yêu cầu anh Dương Huỳnh T.
- Buộc ông Phạm Thành P và à Nguyễn Thị iều L có nghĩa vụ trả cho Dương Huỳnh T số tiền còn thiếu là 2.000.000.000 đồng (hai tỷ đồng chẵn).
Về án phí:
- Trả lại cho anh Dương Huỳnh T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 36.000.000 đồng theo iên lai thu số 17464 ngày 25-7-2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
- Ông Phạm Thành P và Nguyễn Thị iều L phải chịu số tiền 72.000.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Ngoài ra ản án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ chịu lãi chậm thi hành án; quyền và thời hạn kháng cáo; quyền, nghĩa vụ và thời hi u thi hành án của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, Vi n trưởng Vi n ki m sát nhân dân thành phố Cao Lãnh có Quyết định kháng nghị số 05/QĐ NPT-VKS-DS, ngày 20/3/2018 kháng nghị đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 10/2018/DS-ST ngày 28/02/2018 của Toà án nhân dân thành phố Cao Lãnh.
Nội dung kháng nghị đề nghị c p phúc thẩm hủy ản án sơ thẩm số 10/2018/DS-ST ngày 28/02/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh do vi phạm nghiêm trọng về tố tụng và nội dung.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Đại di n Vi n ki m sát nhân dân tỉnh giữ nguyên nội dung kháng nghị của Vi n trưởng Vi n ki m sát nhân dân thành phố Cao Lãnh.
- Nguyên đơn Dương Huỳnh T giữ nguyên nội dung khởi ki n, yêu cầu Tòa phúc thẩm không ch p nhận kháng nghị, giữ nguyên ản án sơ thẩm.
- Ý kiến của i m sát viên tại phiên tòa phúc thẩm phát i u quan đi m của Vi n ki m sát nhân dân tỉnh về tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và đương sự T đều ch p hành đúng quy định của pháp luật, riêng đương sự P và L Tòa phúc thẩm đã tống đạt thủ tục hợp l nhưng vẫn vắng mặt, nên tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự này là đúng pháp luật; về nội dung đề nghị ch p nhận kháng nghị của Vi n trưởng Vi n ki m sát nhân dân thành phố Cao Lãnh hủy án sơ thẩm, do sơ thẩm vi phạm tố tụng.
Sau khi nghiên cứu các tài li u, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
. Biên nhận mượn tiền của anh P ký tên ghi ngày 09/01/2017 do anh T cung c p ản photo, Tòa án không thu thập ản chính và cũng không ki m tra đối chiếu. Gi y iên nhận nợ này do anh P ghi địa chỉ số 66/6, lô B, KDC S, Phường 1, thành phố C. Nhưng Công an Phường xác nhận anh P ở địa chỉ cũ số 300, đường 30/4, Tổ 19, hóm 2, Phường 1, thành phố C. Đến ngày 24/3/2018 chuy n đến địa chỉ hi n tại số 66/6, đường 30/4, Tổ 12, khóm 1, Phường 1, thành phố C. Như vậy, địa chỉ ghi trên iên nhận lúc xác lập nợ là không đúng, anh P vắng mặt từ đầu, gi y nợ là ản đánh máy, chỉ có chữ ký và viết họ tên, không có xác nhận của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền, nhưng chưa được xác minh làm rõ tính xác thực của số nợ này.
. Hộ gia đình anh P tại địa chỉ này ngoài vợ chồng anh P – chị L, còn có 3 người con của vợ chồng P - L, trong đó có hoa N, Quốc T là người đã trưởng thành và ông T khai báo cũng như gi y nợ ghi là P mượn nợ đ cho DNTN K trả nợ vay Ngân hàng, nhưng Tòa sơ thẩm không l y lời khai của N và Quốc T đ xác định quan h nợ này như thế nào, thuộc nghĩa vụ của ai, cũng như lý do vắng mặt và địa chỉ mới của P và L.
. Tòa sơ thẩm niêm yết toàn ộ thủ tục tố tụng đối với anh P, chị L ngay từ đầu. Trong đó có quyết định hoãn phiên tòa ngày 06/02/2018, có ghi rõ thời gian mở lại phiên tòa vào lúc 7 giờ 30 phút ngày 28/02/2018, Quyết định này tống đạt cho anh P và chị L do anh Phạm hoa N ký nhận, nhưng anh N không ghi rõ mối quan h , không cam kết giao lại cho anh P, chị L là vi phạm về thủ tục tống đạt trực tiếp cho đương sự qua người thân sống chung hộ theo quy định của pháp luật và Tòa sơ thẩm tiến hành xét xử, tuyên án kết thúc vụ án vào ngày 28/02/2018 vắng mặt anh P, chị L là không đảm ảo quyền lợi của họ theo quy định pháp luật, là vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng.
. Chưa làm rõ căn cứ xác định có nợ, số nợ và nghĩa vụ liên đới của đương sự L. Buộc anh P và chị L cùng liên đới trả nợ là chưa đủ căn cứ.
. Ý kiến của i m sát viên tại phiên tòa phúc thẩm phát i u về tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và đương sự T đã ch p hành đúng quy định của pháp luật, riêng ị đơn P và người liên quan L vắng mặt suốt quá trình tố tụng phúc thẩm, nhưng đã được tòa phúc thẩm tống đạt thủ tục hợp l nên tiến hành xét xử là đúng quy định của pháp luật. Về nội dung i m sát viên đề nghị ch p nhận kháng nghị của Vi n trưởng Vi n ki m sát nhân dân thành phố Cao Lãnh, hủy án sơ thẩm do vi phạm về tố tụng và không đầy đủ về nội dung là có căn cứ ch p nhận.
. Từ những tình tiết nội dung nhận định trên, Hội đồng xét xử kết luận c p sơ thẩm thu thập chứng cứ không đầy đủ, thủ tục tống đạt xét xử vắng mặt không hợp l , không đầy đủ, đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, mà c p phúc thẩm không th ổ sung, khắc phục được, uộc phải hủy án sơ thẩm giao hồ sơ vụ án về c p sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo quy định pháp luật. hi giải quyết sơ thẩm lại vụ án c p sơ thẩm cần làm rõ những căn cứ chứng minh về nghĩa vụ liên đới của chị L vợ của anh P.
. Do phúc thẩm theo kháng nghị của Vi n ki m sát nên không phán quyết về phần án phí dân sự phúc thẩm và phần án phí dân sự sơ thẩm được quyết định lại khi giải quyết sơ thẩm lại vụ án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 148, khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tuyên xử:
1. Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 10/2018/DS-ST ngày 28/02/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
2. Giao hồ sơ vụ án thụ lý số 379/2017/TLST-DS ngày 28 tháng 7 năm 2017 về cho Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp giải quyết lại vụ án theo quy định pháp luật.
Bản án phúc thẩm có hi u lực pháp luật k từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - V SND tỉnh Đồng Tháp; - TAND thành phố Cao Lãnh; - CCTHADS thành phố Cao Lãnh; - Phòng KTNV-THA TAND Đồng Tháp; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Bùi Văn Phương |