vanban.org

Bản án 150/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 17 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ
MINH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 150/2026/HS-ST
Ngày: 27 - 5 -2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 17 - THÀNH HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Cảnh Khang.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Anh Dũng.

2. Bà Trần Thị Mộng Thu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hải Yến, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 17

- Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Ngọc Ái, Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 5 n m 2026, t i tr s Tòa án nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai v án hình sự th lý số: 156/2026/TLST-HS ngày 16 tháng 4 n m 2026 theo Quyết định đưa v án ra xét xử số: 161/2026/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 5 n m 2026, đối với bị cáo:

1. Trần Chí N, sinh ngày 01/01/1995, t i Hậu Giang; CCCD: 093095006442; nơi cư trú: ấp L, xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang (nay là xã T, thành phố Cần Thơ); nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 6/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Trần Hoài B, sinh n m 1977 (đã chết) và bà Nguyễn Thị T, sinh n m 1976; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Bị Toà án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xử ph t 01 n m 06 tháng tù về tội “tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo Bản án sơ thẩm số 17/2021/HS-ST ngày 02/3/2021. Bị cáo chấp hành xong hình ph t tù ngày 27/01/2022, chấp hành xong án phí ngày 18/3/2022. Bị cáo bị bắt t m giữ, t m giam t i Phân tr i t m giam Lái Thiêu, Công an Thành phố H từ ngày 16/11/2024 cho đến nay. Có mặt.

2. Trần Phước L, sinh ngày 12/3/1999, t i Đồng Tháp; CCCD số: 087099014522; nơi cư trú: Tổ A, ấp D, Xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (nay là xã T, tỉnh Đồng Tháp); nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 06/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Trần V n N1, sinh n m 1970 và bà Trần Thị H, sinh n m 1973; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt t m giữ, t m giam t i Cơ s 1 - Tr i t m B, Công an Thành phố H từ ngày 29/4/2024 cho đến nay. Có mặt.

3. Trịnh Văn T1, sinh ngày 01/01/1991, t i Cà Mau; CCCD số: 096091004292; nơi cư trú: ấp L, xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau (nay là xã T, tỉnh Cà Mau); nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 03/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Trịnh V n H1 (đã chết) và bà Lê Thị H2, sinh n m 1965; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt t m giữ, t m giam t i Cơ s 3 - Tr i t m giam Bố Lá, Công an Thành phố H từ ngày 29/4/2024 cho đến nay. Có mặt.

4. Nguyễn Đặng Thị Nhật M, sinh ngày 22/12/1999, t i Khánh Hòa; CCCD số: 058199005764; nơi cư trú: Khu phố B, phường P, tỉnh Khánh Hòa; nơi t m trú: Tổ C, khu phố B, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 09/12; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn V n T2, sinh n m 1971 và bà Đặng Thị Diễm C, sinh n m 1973; bị cáo không có chồng và có 02 người con, lớn sinh n m 2021, nhỏ sinh n m 2025 (chưa đ ng ký khai sinh); tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp d ng biện pháp ng n chặn cấm đi khỏi nơi trú cho đến nay. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa v liên quan đến v án: Ông Đặng Hoàng M1, sinh n m 1999; địa chỉ: Số B đường G, khu phố T, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh. ( bị t m giam trong v án khác) Vắng mặt.

Người làm chứng: Ông Nguyễn V n T3. Vắng mặt.

NỘI DUNG V ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 29/4/2024, Công an phường T tiến hành kiểm tra hành chính trên địa bàn phường theo Công lệnh tuần tra, kiểm tra số 29-4 ngày 29/4/2024. Khi tuần tra, kiểm tra t i nhà trọ Nguyễn Thanh L1 t i khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương (Nay là phường T, phố H), Công an phường T phát hiện phòng số 1 của nhà trọ do Trần Phước L thuê , có Trần Phước L, Trịnh V n T1 và Phan Như Ý đang trong phòng. T i góc tường trên gác của phòng số 1 có 01 túi nylon miệng kéo dính chứa chất tinh thể màu trắng, Trần Phước L khai nhận đây là ma tuý L mua về để tàng trữ nhằm m c bán, L đã nhiều lần mua ma tuý của Trần Chí N và Đặng Hoàng M1. Tiếp t c kiểm tra phát hiện trên nệm gần vị trí ngồi của T1 có 01 chiếc hộp bằng kim lo i, bên trong có 04 gói nylon miệng hàn kín và 01 túi nylon miệng kéo dính chứa chất tinh thể màu trắng, Trịnh V n T1 khai nhận đây là ma tuý của T1 mua từ L để sử d ng.

Công an phường T tiến hành lập biên bản bắt người ph m tội quả tang đối với Trần Phước L, Trịnh V n T1, đồng thời thu giữ vật chứng liên quan đến v án gồm: 01 túi nylon miệng kéo dính chứa chất tinh thể màu trắng; 04 gói nylon miệng hàn kín và 01 túi nylon miệng kéo dính chứa chất tinh thể màu trắng; 01 hộp hình chữ nhật bằng kim lo i màu đen; 01 cân tiểu ly màu trắng, đen; 01 điện tho i di động hiệu OPPO A54 (BL3-4; 32). Sau đó, Công an phường T chuyển hồ sơ, vật chứng thu giữ cho Cơ quan sát điều tra Công an thành phố T th lý điều tra theo thẩm quyền. Cơ quan sát điều tra Công an thành phố T tiếp nhận hồ sơ và tiến hành trưng cầu giám định đối với chất màu trắng thu giữ từ L, T1.

T i Bản kết luận giám định số 2150/KL-KTHS ngày 08/5/2024 của Phòng thuật hình sự Công an tỉnh B kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng trong 01 túi nylon miệng kéo dính thu giữ từ Trần Phước L gửi giám định là ma túy lo i Methamphetamine, có khối lượng 2,6841 gam (Ký hiệu M1); Mẫu tinh thể màu trắng trong 01 túi nylon miệng kéo dính và trong 04 gói nylon hàn kín thu giữ từ Trịnh V n T1 gửi giám định là ma túy lo i Methamphetamine, có khối lượng 2,0821 gam (ký hiệu M2-1) và 0,8697 gam (ký hiệu M2-2). (BL87)

Kết quả điều tra xác định: Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 27/4/2024, Trần Phước L sử d ng tài khoản Zalo tên “Cậu K” nhắn tin cho Đặng Hoàng M1 thông qua tài khoản Zalo tên “Bư i N2” hỏi mua 250 số ma túy đá (là 25 gam ma túy đá), M1 nhận tin nhắn và báo giá cho L là 10.500.000 đồng, L đồng ý. Lúc này, M1 kêu bị can Luân chuyển tiền trước qua tài khoản ngân hàng cho Trần Chí N (L quen biết Nguyện từ n m 2023), L đồng ý, do trước đó N mượn L 2.500.000 đồng nên L sử d ng tài khoản Ngân hàng TMCP T7 (T8) số 00002558113 chuyển đến Ngân hàng TMCP Á (A) số 11230101 của Trần Chí N số tiền 8.000.000 đồng, khấu trừ 2.500.000 đồng số tiền đã mượn. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, L đang phòng trọ thì nhận được cuộc gọi Zalo của N, L nghe máy thì N kêu L ra trước nhà trọ lấy ma túy, L đồng ý và đi ra bên ngoài thì thấy có túi nylon đựng rau trước nhà trọ nên lấy lên xem, thấy có ma túy bên trong nên L đem vào phòng trọ cất giấu.

Đến khoảng 10 giờ ngày 28/4/2024, Nguyễn V n T3 (sinh ngày 28/12/1997, nơi thường trú: ấp P, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long, nay là xã S, tỉnh Vĩnh Long) đi đến phòng trọ của L hỏi mua 700.000 đồng ma túy về để sử d ng thì L đồng ý và bán cho T3, T3 đem về sử d ng một mình t i nhà trọ của T3 và đã sử d ng hết. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, Trịnh V n T1 đi đến phòng trọ của L hỏi mua 2.600.000 đồng ma túy đá thì L đồng ý và bán cho T1, T1 đem về sử d ng một mình t i phòng trọ của T1, số ma túy còn l i gồm 01 túi nylon miệng kéo dính và 04 gói nylon hàn kín đều chứa ma túy T1 cất vào trong hộp bằng kim lo i màu đen. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, L đang phòng trọ thì có người ph nữ tên T4 (không rõ nhân thân) đến gặp L hỏi mua 4.600.000 đồng ma túy, L đồng ý và bán cho T4, T4 nhận ma tuý rồi đi về còn L tiếp t c trong phòng trọ.

Đến khoảng 08 giờ ngày 29/4/2024, L đang phòng trọ thì Phan Như Ý là b n gái của L đến chơi, cả hai ngồi nói chuyện trên gác đến 08 giờ 30 phút cùng ngày, Ý đi xuống bếp nấu n. Khi đó, Trịnh V n T1 đến phòng trọ của L và đi lên gác cùng với L. Khi đến, T1 đem theo hộp bằng kim lo i màu đen bên trong có chứa ma túy, khi lên gác T1 hỏi mua 1.000.000 đồng ma túy, L đồng ý và đưa túi nylon chứa ma túy cho T1, T1 nhận lấy và m túi nylon L đưa ra và đổ 01 ít ma tuý trong đó sang túi nylon có chứa ma tuý mà T1 mang theo rồi cất giấu vào trong hộp kim lo i màu đen (T1 chưa trả tiền cho L). Sau khi lấy ma túy xong, T1 trả l i túi nylon chứa ma túy cho L, L ném túi nylon chứa ma túy vào góc tường trên gác.

Ngoài ra kết quả điều tra xác định: Khoảng tháng 01/2024, L đã mua ma túy của N khoảng 03 lần, địa điểm giao nhận ma tuý t i phòng trọ của N t i phường T (đã chuyển đi vào cuối tháng 02/2024) về để sử d ng. T i đây, L gặp và quen với Đặng Hoàng M1 là người cùng phòng với N. Khi đó L biết được N và M1 (B1) cùng nhau và bán ma túy. L mua ma túy của M1 (B1) được 04 lần từ khoảng tháng 02/2024, cách khoảng 03 tuần L mua một lần với giá khoảng 10.500.000 đồng, lần cuối cùng là ngày 27/4/2024, mỗi lần liên hệ mua ma túy của M1 (B), L đều chuyển tiền qua tài khoản ngân hàng cho N. Sau khi chuyển tiền xong khoảng vài tiếng sau, N sẽ nhắn tin hoặc gọi qua Zalo báo L ra trước nhà trọ lấy ma túy, cả 04 lần L đều không biết ai là người giao ma túy. Sau khi liên hệ mua ma túy của N và M1 (B1) thì L đã bán ma túy cho Nguyễn V n T3 04 lần, lần gần nhất là khoảng 10 giờ ngày 28/4/2024 với số tiền 700.000 đồng; Bán cho Trịnh V n T1 03 lần vào ngày 20/4/2024, ngày 28/4/2024 và ngày 29/4/2024; B2 cho người ph nữ tên T4 (không rõ nhân thân, lai lịch) được khoảng 06 lần, lần gần nhất vào ngày 28/4/2024 với số tiền 4.600.000 đồng, những lần trước đó L không nhớ rõ thời gian, số tiền.

Ngoài bán ma tuý cho L như các lần nêu trên thì Đặng Hoàng M1 đã bán ma túy cho Trần Chí N được 04 lần c thể như sau: Lần thứ nhất: vào ngày 18/5/2024, N mua 250 số, với số tiền 8.500.000 đồng. Lần thứ hai: vào ngày 18/5/2024, N tiếp t c mua 250 số với số tiền 8.500.000 đồng. Lần thứ ba: vào ngày 22/5/2024, N mua 01 l ng ma túy đá với số tiền 30.000.000 đồng. Lần thứ tư: vào ngày 25/5/2024, N mua nữa hộp 5 ma túy đá với số tiền 4.000.000 đồng. Tất cả những lần giao dịch mua bán ma túy giữa M1 và N, N đều chuyển khoản cho M1 qua số tài khoản Ngân hàng T9 6717120299 tên DANG HOANG MINH. M1 khai nhận dùng tài khoản này để giao dịch chuyển tiền mua bán ma túy.

T i thời điểm này, Trần Chí N chưa bị bắt nên Trần Chí N thuê nhà t i Khu dân cư -, khu phố K, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, thành phố Hồ Chí Minh) để cùng Nguyễn Đặng Thị Nhật M, sinh n m 1999, việc thuê và trả tiền thuê nhà do Trần Chí N thực hiện. N là người nghiện ma tuý và bán ma tuý nên sau khi Đặng Hoàng M1 bị bắt thì N chuyển sang mua ma tuý của đối tượng tên B3 (không rõ nhân thân) về để tổ chức cho M và Trần V n T5 sử d ng và bán l i.

Kết quả điều tra xác định: Khoảng 18 giờ ngày 15/11/2024, N liên hệ qua Zalo tên B3 hỏi mua ma tuý với số tiền 3.000.000 đồng thì B3 đồng ý. Nguyện và thoả thuận giao ma tuý t i khu vực ngã tư A thuộc thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường A, phố H). Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, N thuê xe G đến khu vực ngã tư A, t i đây N giao cho B3 số tiền 3.000.000 đồng, B3 đưa cho N 01 túi nylon miệng kéo dính bên trong chứa tinh thể màu trắng. Sau khi mua ma tuý xong N đem về nhà thuê cất giấu nhằm m c đích để bán nhưng chưa bán được. Đến khoảng 15 giờ 10 phút ngày 16/11/2024, Đội cảnh sát điều tra tội ph m về Kinh tế và Ma túy Công an thành phố T phối hợp cùng Công an phường T tiến hành kiểm hành chính nơi N. Qua kiểm tra phòng ngủ của N phát hiện 01 bộ d ng c sử d ng ma túy, đã qua sử d ng gồm: 01 nỏ thủy tinh bên trong có chất bám dính màu nâu và 01 ống hút một đầu cắm vào 01 chai thủy tinh; 01 túi nylon miệng kéo dính cuộn l i quấn b ng giấy dính bên trong chứa chất tinh thể màu trắng; 01 túi nylon miệng kéo dính bên trong chứa chất tinh thể màu trắng; 01 cân tiểu ly màu hồng - xanh - vàng; 02 ống hút một đầu hàn kín, một đầu được cắt nhọn; 01 kéo kim lo i; 15 (mười l m) túi nylon miệng kéo dính chưa qua sử d ng. N khai nhận chất tinh thể màu trắng và chất màu nâu là ma túy nên Công an phường T lập biên bản bắt người ph m tội quả tang đối với N đồng thời lập biên bản niêm phong tang vật.

Công an phường T t m giữ đồ vật, tài liệu liên quan gồm: 01 điện tho i di động nhãn hiệu SamSung Galaxy S8, màu xanh; 01 điện tho i Galaxy T (2016), màu đen (do Trần Chí N giao nộp).

Kết luận giám định số 5413/KL-KTHS (MT) ngày 21/11/2024 của Phòng thuật hình sự Công an tỉnh B kết luận: Tinh thể màu trắng trong 01 (một) túi nylon miệng kéo dính, khối lượng 1,1632 gam (M1); Tinh thể màu trắng trong 01 túi nylon miệng kéo dính, khối lượng 8,1519 gam (M2); Chất màu nâu trong 01 nỏ thuỷ tinh, khối lượng 0,1849 gam (M3), lo i Methamphetamine.

Kết quả điều tra xác định ngoài hành vi bán trái phép chất ma tuý như trên thì Trần Chí N, Trần V n T5 và Nguyễn Đặng Thị Nhật M thực hiện hành vi ph m tội khác c thể như sau:

Lần thứ nhất: Vào khoảng tháng 6/2023 t i phòng trọ của Trần V n T5 t i khu phố L, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương (phường T, thành phố Hồ Chí Minh), N đã đem ma tuý, bộ d ng c sử d ng ma tuý đến gặp T5 và rủ sử d ng ma tuý, T5 đồng ý nên N lấy ma tuý bỏ vào bộ d ng c rồi cùng với T5 sử d ng t i phòng trọ của T5.

Lần thứ hai: Cũng trong tháng 6/2023, N đến phòng trọ của Trần V n T5 t i khu phố L, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương (phường T, thành phố Hồ Chí Minh) rủ T5 góp tiền mua ma tuý sử d ng, T5 đồng ý và đưa cho N 500.000 đồng, N nhận tiền đi mua ma tuý đem về phòng của T5 sử d ng cùng T5.

Lần thứ ba: Khoảng cuối tháng 8/2024, M và N cùng nhau trong phòng ngủ nhà thuê của N, N lấy bộ d ng c sử d ng ma túy trong phòng trọ và rủ M cùng sử d ng ma tuý, M đồng ý nên N bỏ ma tuý vào bộ d ng c nấu lên cho M và N cùng sử d ng.

Lần thứ bốn: Khoảng giữa tháng 9/2024, M và N cùng nhau trong phòng ngủ nhà thuê của N, N lấy bộ d ng c sử d ng ma túy trong phòng trọ và rủ M cùng sử d ng ma tuý, M đồng ý nên N bỏ ma tuý vào bộ d ng c nấu lên cho M và N cùng sử d ng.

Lần thứ n m: Khoảng đầu tháng 10/2024, M và N cùng nhau trong phòng ngủ nhà thuê của N, N lấy bộ d ng c sử d ng ma túy trong phòng trọ và rủ M cùng sử d ng ma tuý, M đồng ý nên N bỏ ma tuý vào bộ d ng c nấu lên cho M và N cùng sử d ng.

Lần thứ sáu: Khoảng cuối tháng 10/2024, M và N cùng nhau trong phòng ngủ nhà thuê của N, N lấy bộ d ng c sử d ng ma túy trong phòng trọ và rủ M cùng sử d ng ma tuý, M đồng ý nên N bỏ ma tuý vào bộ d ng c nấu lên cho M và N cùng sử d ng. Lần này do phòng ngủ không đóng nên T5 đi vào nhìn thấy và xin vào sử d ng ma túy chung thì N đồng ý để cho T5 cùng sử d ng.

Lần thứ bảy: Khoảng đầu tháng 11/2024, M và N cùng nhau trong phòng ngủ nhà thuê của N, N lấy bộ d ng c sử d ng ma túy đá trong phòng sau đó rủ M cùng sử d ng ma tuý. Thời điểm này, T5 đi đến kêu N và M đi n cơm, lúc này N rủ T5 sử d ng, T5 đồng ý và cùng sử d ng ma tuý với M và N, sử d ng xong thì T5 cùng N và M đi n cơm.

Lần thứ tám: Ngày 10/11/2024, T5 đang phòng khách nhà thuê của N, N đi công việc về sau đó vào phòng ngủ lấy bộ d ng c sử d ng bỏ ma tuý vào sau đó rủ T5 cùng sử d ng, Lần này, M không sử d ng nhưng chứng kiến và biết rõ việc N tổ chức cho T5 sử d ng trái phép chất ma tuý.

Lần thứ chín: Vào khoảng 21 giờ ngày 14/11/2024, T5 đang ngủ trên gác nhà của N thuê, N đem bộ D sử d ng ma tuý bên trong chứa ma tuý đem lên gác rủ T5 cùng sử d ng ma tuý, T5 đồng ý và sử d ng cùng với N. Lần này, M không sử d ng nhưng chứng kiến và biết rõ việc N tổ chức cho T5 sử d ng trái phép chất ma tuý.

Lần thứ mười: Vào khoảng 22 giờ, ngày 15/11/2024, M và N cùng nhau trong phòng ngủ nhà thuê của N, N lấy bộ d ng c sử d ng ma túy trong phòng trọ và rủ M cùng sử d ng ma tuý, M đồng ý nên N bỏ ma tuý vào bộ d ng c nấu lên cho M và N cùng sử d ng.

Cáo tr ng số 210/CT-VKSHCM-KV ngày 14/4/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh, truy tố bị cáo:

Trần Chí N ph m tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử d ng trái phép chất ma tuý” theo quy định t i điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm a, b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự n m 2015, sửa đổi bổ sung n m 2017.

Trần Phước L ph m tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định t i điểm b, i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự n m 2015, sửa đổi bổ sung n m 2017.

Trịnh V n T1 ph m tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định t i điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự n m 2015, sửa đổi bổ sung n m 2017.

Nguyễn Đặng Thị Nhật M ph m tội “Không tố giác tội ph m” theo quy định t i khoản 1 Điều 390 của Bộ luật Hình sự n m 2015, sửa đổi bổ sung n m 2017.

Tại phiên tòa:

Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung Cáo tr ng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo: Trần Chí N ph m tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử d ng trái phép chất ma tuý”; Trần Phước L ph m tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Trịnh V n T1 ph m tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Nguyễn Đặng Thị Nhật M ph m tội “Không tố giác tội ph m”.

- C n cứ điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, 38, 55, 58 của Bộ luật Hình sự, xử ph t Trần Chí N từ 10 n m đến 11 n m tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” từ 09 n m đến 10 n m tù về “Tổ chức sử d ng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình ph t buộc bị cáo phải chấp hành là từ 19 n m đến 21 n m tù.

- C n cứ điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, 38, 58 của Bộ luật Hình sự, xử ph t Trần Phước L từ 09 n m 06 tháng đến 10 n m tù.

- C n cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, 38, 58 của Bộ luật Hình sự, xử ph t Trịnh V n T1 từ 03 n m đến 03 n m 06 thángtù.

- C n cứ khoản 1 Điều 390; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử ph t Nguyễn Đặng Thị Nhật M từ 08 tháng đến 10 tháng tù.

Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp đề nghị:

- Tịch thu, tiêu hủy: Chất ma túy lo i Methaphetamine (mẫu vật hoàn l i sau giám định) được đựng trong 01 (Một) bì thư niêm phong ký hiệu số 5413/KL-KTHS (MT) ngày 21/11/2024.

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 điện tho i di động nhãn hiệu SamSung Galaxy S8, màu xanh; 01 điện tho i Galaxy T (2016), màu đen.

- Buộc bị cáo Trần Chí N nộp 700.000 đồng, Trần Phước L nộp 6.300.000 đồng tiền thu lợi bất chính để sung vào ngân sách Nhà nước.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận đối với lời luận tội của Kiểm sát viên t i phiên tòa.

T i phiên tòa, bị cáo Trần Chí N thừa nhận hành vi mua ma túy về m c đích sư d ng và bán l i cho các đối tượng nghiện, khi mua về không phân chia khối lượng nào để bán, khối lượng nào để sử d ng, bị cáo N chỉ nhớ được bán ma túy cho bị cáo Trần Phước L 03 lần, trong đó 02 lần bán 200.000 đồng, 01 lần bán 300.000 đồng từ tháng 11/2024; thu lợi tổng cộng 700.000 đồng như trình bày của cáo L, ngoài ra còn bán cho nhiều đối tượng nghiện khác từ n m 2023 nhưng không nhớ nhân thân lai lịch, thời gian, địa điểm c thể thế nào. Bị cáo N cũng thừa nhận hành vi giúp sức cho đối tượng Đặng Hoàng M1 bán ma túy cho L 04 lần, là nhận tiền qua hình thức chuyển khoản của L và chỉ điểm chỗ nhận ma túy cho L. Khi nhận tiền từ L thì N đã chuyển khoản trả tiền cho M1. N không biết nguồn gốc ma túy từ đâu M1 bán cho L và N cũng không phải người trực tiếp đi giao ma túy cho L.

Trong lời nói sau cùng, các bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi ph m pháp luật nên rất hối hận, n n n hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nh hình ph t để sớm được tr về hòa nhập với cộng đồng, tr thành công dân có ích cho xã hội.

NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ s nội dung v án, c n cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng t i phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1 Về hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ t c quy định của Bộ luật Tố t ng hình sự. Quá trình điều tra và t i phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố t ng không có ý kiến hoặc khiếu n i về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng. Do đó, các hành vi và quyết định tố t ng của cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng là đúng quy định của pháp luật.

[2 T i phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi ph m tội của mình, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai đã khai báo t i cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ v án cũng như vật chứng thu giữ. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ s kết luận:

[2.1 Hành vi của Trần Chí N:

Vào khoảng từ tháng 6/2023 đến ngày 15/11/2024 t i phòng trọ của Trần V n T5, địa chỉ khu phố L, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương (phường T, phố H) và phòng trọ của Trần Chí N, địa chỉ nhà thuê Khu dân cư B, khu phố K, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, phố H), Trần Chí N và Trần V n T5 đã 02 lần tổ chức cho nhau sử d ng trái phép chất ma tuý; Trần Chí N cung cấp ma túy, bộ d ng c sử d ng ma túy tổ chức cho Trần V n T5, Nguyễn Đặng Thị Nhật M sử d ng ma túy 08 lần, trong đó M sử d ng 04 lần; T5 sử d ng 02 lần; T5 và M sử d ng 02 lần. Do đó, hành vi của bị cáo Trần Chí N đã đủ yêu tố cấu thành tội “Tổ chức sử d ng trái phép chất ma túy” theo quy định điểm a, b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

Ngày 16/11/2024 t i phòng trọ của Trần Chí N địa chỉ trên, N có hành vi tàng trữ khối lượng 9,3151 gam ma túy lo i Methamphetamine nhằm m c đích bán cho các đối tượng nghiện thì bị lực lượng Công an kiểm tra hành chính phát hiện bắt quả tang. Ngoài ra, khoảng tháng 01/2024 t i phòng trọ của Trần Chí N, N bán ma túy cho Trần Phước L 03 lần trong đó 02 lần bán 200.000 đồng, 01 lần bán 300.000 đồng từ tháng 11/2024; N giúp sức cho Đặng Hoàng M1 (Bư i) bán ma túy cho L 04 lần, trong việc nhận tiền bán ma túy từ tài khoản Ngân hàng của N, chỉ địa điểm nhận ma túy cho L đi nhận ma túy. Do , hành vi của bị cáo Trần Chí N đã đủ tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy điểm b, i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật sự.

[2.2 Hành vi của Trần Phước L, Trịnh V n T1:

Vào các ngày 20/4/2024 và ngày 29/4/2024, t i nhà trọ do Trần Phước L thuê, địa chỉ nhà trọ Nguyễn Thanh L1 t i khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương (Nay là phường T, phố H), L đã bán 2,9518 gam ma túy lo i Methamphetamine cho Trịnh V n T1 và tàng trữ 2,6841 gam ma tuý lo i Methamphetamine nhằm m c đích bán cho các đối tượng nghiện. Cùng thời điểm, Trịnh V n T1 có hành vi tàng trữ trái phép 2,9518 gam ma túy lo i Methamphetamine nhằm m c đích sử d ng cho bản thân thì bị lực lượng công an phát hiện bắt quả tang đối với Trần Phước L, Trịnh V n T1.

Ngoài ra, Trần Phước L có hành vi bán ma túy cho Nguyễn V n T3 04 lần, lần gần nhất là khoảng 10 giờ ngày 28/4/2024 với số tiền 700.000 đồng; Bán cho Trịnh V n T1 03 lần vào ngày 20/4/2024, ngày 28/4/2024, ngày 29/4/2024; Bán cho người ph nữ tên T4 (không rõ nhân thân, lai lịch) được khoảng 06 lần, lần gần nhất vào ngày 28/4/2024 với số tiền 4.600.000 đồng, những lần trước đó L không nhớ rõ thời gian, số tiền.

Do đó, hành vi của bị cáo Trần Phước L đã đủ yêu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; hành vi của bị cáo Trịnh V n T1 đã đủ tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

[2.3 Hành vi của Nguyễn Đặng Thị Nhật M:

Từ tháng 8/2024 đến ngày 15/11/2024, Nguyễn Đặng Thị Nhật M là người cùng với Trần Chí N như vợ chồng, không đ ng ký kết hôn, M nhiều lần được N tổ chức cho sử d ng trái phép chất ma tuý, khi chung cùng với N ngoài việc sử d ng ma tuý cùng N thì M nhìn thấy và biết rõ việc N tổ chức cho Trần V n T5 sử d ng ma tuý 04 lần nhưng M không tố giác hành vi của N. Do đó, hành vi của bị cáo Nguyễn Đặng Thị Nhật M đã đủ tố cấu thành tội “Không tố giác tội ph m” theo quy định khoản 1 Điều 390 của Bộ luật Hình sự.

Do đó, Cáo tr ng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh truy tố các bị cáo theo các tội danh và điều khoản như trên là có c n cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3 Hành vi mà các bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm ph m đến ho t động quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy. Các bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và tổ chức sử d ng trái phép chất ma túy là vi ph m pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do đó, cần có mức hình ph t tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi ph m tội mà bị cáo đã thực hiện để có tác d ng giáo d c bị cáo tr thành công dân tốt, đồng thời nhằm r n đe và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, khi quyết định hình ph t cần xem xét về nhân thân, các tình tiết t ng nặng, giảm nh trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

[4 Về vai trò đồng ph m: Các bị cáo thực hiện hành vi ph m tội đồng ph m giản đơn, không có sự cấu kết chặt chẽ với nhau.

[5 Về tình tiết t ng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[6 Về tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thành khẩn khai báo, n n n hối cải là tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự quy định t i điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Nguyễn Đặng Thị Nhật M ph m tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đang nuôi con nhỏ là tình tiết giảm trách nhiệm hình sự quy t i điểm i khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Trần Phước L đã khai báo, tự thú hành vi bán ma túy trước đó cho Nguyễn V n T3, người ph nữ tên T4 (không rõ nhân thân, lai lịch) là tình tiết giảm trách nhiệm hình sự “Người ph m tội tự thú” theo quy định t i điểm r khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[7 Về nhân thân: Các bị cáo đều có nhân thân xấu là đối tượng nghiện ma túy. Bị cáo Trần Chí N bị Toà án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xử ph t 01 n m 06 tháng tù về tội “tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo Bản án sơ thẩm số 17/2021/HS-ST ngày 02/3/2021, bị cáo chấp hành xong hình ph t tù từ ngày 27/01/2022, chấp hành xong án phí ngày 18/3/2022, ngày 16/11/2024 bị cáo bị bắt quả tang nên Hội đồng xét xử c n cứ điểm b khoản 1 Điều 70 của Bộ luật sự n m 2015 (sửa đổi, bổ sung n m 2017, 2024, 2025) cho bị cáo thuộc trường hợp đương nhiên được xóa án tích. Bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng bản thân, mà tiếp t c thực hiện hành vi ph m tội là thể hiện thái độ xem thường pháp luật của bị cáo.

[8 T i phiên tòa, đ i diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị xử ph t bị cáo mức hình ph t đối với các bị cáo là phù hợp nên được chấp nhận.

[9 Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) bì thư ký hiệu 5413/PC09 bên trong có: 01 (Một) túi nylon miệng kéo dính được cuốn l i cuốn b ng giấy dán bên trong chứa màu trắng (ký hiệu M1), 01 (Một) túi nylon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng (ký hiệu M2), 01 (Một) nỏ thủy tinh chứa tinh thể màu nâu (ký hiệu M3) - đều là ma túy còn l i sau giám định; 01 (Một) cân tiểu ly màu hồng xanh vàng; 02 (Hai) ống hút một đầu hàn kín, một đầu được cắt nhọn; 01 (Một) kéo bằng kim lo i; 15 (Mười l m) túi nylon miệng kéo chưa sử d ng;

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 điện tho i di động nhãn hiệu Galaxy S8, màu xanh (đã qua sử d ng), không m được nguồn, không kiểm tra được tình tr ng bên trong, được niêm phong trong bì thư; 01 (Một) điện tho i di động nhãn hiệu S1 (2016) (đã qua sử d ng), không m được nguồn, không kiểm tra được tình tr ng bên trong, được niêm phong trong bì thư;

Trả l i cho bị cáo Trần Chí N: 01 (Một) c n cước công dân tên Trần Chí N.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) bì thư được niêm phong ghi số 2150/PC09 M1; 01 (Một) bì thư được niêm phong ghi số 2150/PC09 M2; 01 (Một) hộp hình chữ nhật bằng kim lo i màu đen (đã qua sử d ng); 01 (Một) cân tiểu ly màu trắng, đen (đã qua sử d ng).

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 (Một) điện tho i di động nhãn hiệu OPPO A54, màu đen (đã qua sử d ng, không lên nguồn, không kiểm tra được bên trong).

[10 Đối với đối tượng Đặng Hoàng M1 đã được tách ra để giải quyết trong v án khác Quyết định tách v án hình sự số A3598 ngày 11 tháng 02 n m 2026 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an phố H.

[11 Đối với số tiền bị cáo Trần Chí N, Trần Phước L thu từ việc bán ma túy, là tiền thu lợi bất chính. Do đó, buộc bị cáo phải nộp l i để sung vào Ngân sách Nhà nước.

[12 Đối với bị can Trần V n T5: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an phố H đã ban hành Quyết định tách v án hình sự số A6055/QĐ-CSMT ngày 18/3/2026 và Quyết định truy nã số A6170/QĐTN-CSMT ngày 19/3/2026. Do đó, khi nào bắt được sẽ xử lý sau.

[13 Đối với đối tượng tên B3 bán ma túy cho bị cáo N. Hiện nay Cơ quan sát điều tra chưa xác minh được nhân thân, lai lịch khi nào xác minh được sẽ xử lý sau.

[14 Về án phí sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT Đ NH:

1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố:

Bị cáo Trần Chí N ph m tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử d ng trái phép chất ma túy”.

Bị cáo Trần Phước L ph m tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Bị cáo Trịnh V n T1 ph m tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Bị cáo Nguyễn Đặng Thị Nhật M ph m tội “Không tố giác tội ph m”.

2. Về hình ph t:

- C n cứ điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, 38, 55, 58 của Bộ luật Hình sự, xử ph t Trần Chí N 10 (M2) n m tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 09 (C1) n m tù về “Tổ chức sử d ng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình ph t buộc bị cáo phải chấp hành là 19 (Mười chín) n m tù. Thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày 16/11/2024.

- C n cứ điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 17, 38, 58 của Bộ luật Hình sự, xử ph t Trần Phước L 09 (Chín) n m 06 (S) tháng tù. Thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày 29/4/2024.

- C n cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, 38, 58 của Bộ luật Hình sự, xử ph t Trịnh V n T1 03 (Ba) n m tù. Thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày 29/4/2024.

- C n cứ khoản 1 Điều 390; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử ph t Nguyễn Đặng Thị Nhật M từ 08 (T6) tháng tù. Thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

3. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: C n cứ Điều 46, 47, 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố t ng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) bì thư ký hiệu 5413/PC09 bên trong có: 01 (Một) túi nylon miệng kéo dính được cuốn l i cuốn b ng giấy dán bên trong chứa màu trắng (ký hiệu M1), 01 (Một) túi nylon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng (ký hiệu M2), 01 (Một) nỏ thủy tinh chứa tinh thể màu nâu (ký hiệu M3) - đều là ma túy còn l i sau giám định; 01 (Một) cân tiểu ly màu hồng xanh vàng; 02 (Hai) ống hút một đầu hàn kín, một đầu được cắt nhọn; 01 (Một) kéo bằng kim lo i; 15 (Mười l m) túi nylon miệng kéo chưa sử d ng;

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 điện tho i di động nhãn hiệu Galaxy S8, màu xanh (đã qua sử d ng), không m được nguồn, không kiểm tra được tình tr ng bên trong, được niêm phong trong bì thư; 01 (Một) điện tho i di động nhãn hiệu S1 (2016) (đã qua sử d ng), không m được nguồn, không kiểm tra được tình tr ng bên trong, được niêm phong trong bì thư;

- Trả l i cho bị cáo Trần Chí N: 01 (Một) c n cước công dân tên Trần Chí N.

Theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 13/11/2025.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) bì thư được niêm phong ghi số 2150/PC09 M1; 01 (Một) bì thư được niêm phong ghi số 2150/PC09 M2; 01 (Một) hộp hình chữ nhật bằng kim lo i màu đen (đã qua sử d ng); 01 (Một) cân tiểu ly màu trắng, đen (đã qua sử d ng).

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 (Một) điện tho i di động nhãn hiệu OPPO A54, màu đen (đã qua sử d ng, không lên nguồn, không kiểm tra được bên trong).

Theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 17/3/2026.

- Buộc bị cáo Trần Chí N nộp l i số tiền thu lợi bất chính để sung vào Ngân sách Nhà nước là 700.000 đồng (Bảy tr m nghìn đồng).

- Buộc bị cáo Trần Phước L nộp l i số tiền thu lợi bất chính để sung vào Ngân sách Nhà nước là 6.300.0000 đồng (Sáu triệu ba tr m nghìn đồng).

4. Về án phí sơ thẩm: C n cứ Điều 136 Bộ luật Tố t ng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường v Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử d ng án phí và lệ phí Tòa án;

Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai tr m nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời h n 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa v liên quan đến v án có quyền kháng cáo trong thời h n 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đ t hợp lệ.

Cỡ chữ