vanban.org

Bản án 150/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phùng Thị N - Nguyễn Văn N1"
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7 – CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 150/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 07/07/2026
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Vàng

Các Hội thẩm nhân dân:Ông Nguyễn Thành Đông

Ông Lâm Văn Tùng

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thuận Phát, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 - Cần Thơ.

Trong ngày 07 tháng 07 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 - Cần Thơ. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 189/2026/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 05 năm 2026 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 248/2026/QĐXXST – HNGĐ ngày 25 tháng 05 năm 2026 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Phùng Mộng N, sinh ngày 01/01/1983 (Có mặt)

Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx

Địa chỉ: ấp L, xã T, thành phố Cần Thơ.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn N1, sinh ngày 21/7/1981. (Vắng mặt)

Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx

Địa chỉ: ấp L, xã T, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1/ Theo đơn khởi kiện lập ngày 29/04/2026, quá trình tố tụng nguyên đơn bà Phùng Mộng N trình bày:

Về hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Văn N1 tự nguyện sống chung với nhau từ năm 2001 và có tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán tại địa phương, đến ngày 04/9/2008 bà và ông N1 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng (nay là Ủy ban nhân dân xã T, thành phố Cần Thơ), và được cấp giấy chứng nhận kết hôn.

Trong thời gian đầu khi mới chung sống với nhau thì vợ chồng bà chung sống rất hạnh phúc, tuy nhiên hiện nay bà và ông N1 xảy ra mâu thuẫn, bà nhận thấy không còn hợp nhau, mục đích hôn nhân không đạt được, ông N1 chỉ lo ăn chơi, không lo làm ăn, không chăm lo kinh tế cho gia đình, tối ngày gây nợ nần, hết nợ đợt này đến nợ đợt khác, rồi lần nào gây nợ cũng bỏ nhà đi, để bà một mình trả nợ, quá trình sống chung từ đó đến nay ông N1 nhiều lần đánh đập bà, gia đình không hạnh phúc. Đợt này bỏ nhà đi từ 30 tết nguyên đáng đến nay không có về nhà, khi tòa án mời thì gia đình cũng điện thoại cho ông N1 hay nhưng ông N1 không chịu về, rồi mấy ngày nay không còn liên lạc được với ông N1 luôn. Nay bà yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Văn N1.

Về con chung: Bà và ông Nguyễn Văn N1 có ba con chung là cháu Nguyễn Bích N2, sinh ngày 05/05/2002, cháu Nguyễn Văn Q, sinh ngày 01/3/2005 và cháu Nguyễn Hồng T, sinh ngày 16/7/2008, hiện nay hai cháu N2 và Q đã trưởng thành, đủ khả năng lao động tự nuôi sống bản thân, nên bà không yêu cầu xem xét, giải quyết. Còn cháu T còn vài ngày nữa cũng đã trưởng thành, cháu T có nguyện vọng sống chung với bà, bà đang nuôi cháu T nên bà yêu cầu tiếp tục nuôi cháu T, không yêu cầu ông N1 cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung, nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng sau khi ly hôn: Bà N không yêu cầu xem xét, giải quyết.

2/ Bị đơn ông Nguyễn Văn N1: Ông N1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng thể hiện yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phùng Mộng N nhưng ông N1 không có ý kiến phản đối, cũng không đến Tòa án tham gia phiên tòa.

3/ Tại phiên tòa cháu Nguyễn Hồng T, sinh ngày 16/7/2008 thể hiện ý kiến: cháu T có nguyện vọng muốn sống chung với mẹ Phùng Mộng N sau khi cha mẹ ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền: Nguyên đơn bà Phùng Mộng N khởi kiện yêu cầu ly hôn, nuôi con với ông Nguyễn Văn N1 cư trú tại ấp L, xã T, thành phố Cần Thơ, không còn yêu cầu gì khác. Nên Tòa án xác định loại kiện “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 7 – Cần Thơ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về vắng mặt đương sự: Bị đơn ông Nguyễn Văn N1 đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Phùng Mộng N và ông Nguyễn Văn N1 là những người có đầy đủ điều kiện kết hôn, ngày 04/9/2008 ông bà tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng (nay là Ủy ban nhân dân xã T, thành phố Cần Thơ) và đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn. Do vậy quan hệ hôn nhân giữa bà N và ông N1 là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Trong cuộc sống hôn nhân giữa bà N và ông N1, theo bà N cho rằng hiện nay bà N và ông N1 xảy ra mâu thuẫn ngày càng gay gắt, trong cuộc sống hôn nhân ông N1 chỉ lo ăn chơi, không lo làm ăn, không chăm lo kinh tế cho gia đình, tối ngày gây nợ nần, hết nợ đợt này đến nợ đợt khác, rồi lần nào gây nợ cũng bỏ nhà đi, để bà một mình trả nợ, rồi quá trình sống chung từ đó đến nay nhiều lần đánh đập bà. Đợt này bỏ nhà đi từ 30 tết nguyên đáng đến nay không có về nhà, rồi mấy ngày nay bà N không còn liên lạc được với ông N1. Cho nên bà N giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Văn N1. Ông N1 không có ý kiến phản đối yêu cầu ly hôn của bà N, không đến Tòa án tham dự phiên hòa giải, phiên tòa, bỏ mặc cuộc hôn nhân giữa bà N và ông N1. Xét thấy, nền tảng của mối quan hệ hôn nhân vững chắc là việc vợ chồng yêu thương nhau, quan tâm, chăm sóc nhau, tin tưởng và tôn trọng lẫn nhau. Trong cuộc sống vợ chồng của bà N và ông N1 đã không còn sự quan tâm, thương yêu dành cho nhau, không còn tin tưởng, tôn trọng nhau, gia đình không còn xây dựng trên nền tảng tiến đến hôn nhân hạnh phúc, mâu thuẫn giữa bà N và ông N1 là trầm trọng không thể khắc phục, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà Phùng Mộng N được ly hôn với ông Nguyễn Văn N1.

Về con chung: Bà Phùng Mộng N và ông Nguyễn Văn N1 có ba con chung là cháu Nguyễn Bích N2, sinh ngày 05/05/2002, cháu Nguyễn Văn Q, sinh ngày 01/3/2005 và cháu Nguyễn Hồng T, sinh ngày 16/7/2008, hiện nay hai cháu N2 và Q đã trưởng thành, bà N trình bày hai cháu N2 và Q đều đủ khả năng lao động, tự nuôi sống bản thân không yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết. Còn cháu T còn vài ngày nữa cũng đã trưởng thành, cháu T có nguyện vọng sống chung với bà N, bà N đang nuôi cháu T nên yêu cầu tiếp tục nuôi cháu T, không yêu cầu ông N1 cấp dưỡng nuôi con. Ông N1 không có ý kiến phản đối, cháu T hiện nay đã hơn 17 tuổi và có nguyện vọng được sống chung với mẹ là bà N sau khi cha mẹ ly hôn với nhau. Xét thấy, tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Giữa bà N và ông N1 không thống nhất thỏa thuận với nhau về việc giao con chung cho ai nuôi dưỡng nên Hội đồng xét xử sẽ quyết định về việc giao con cho ai nuôi dưỡng. Do cháu T hiện nay đang được mẹ ruột là bà N nuôi dưỡng, cháu T đã hơn 17 tuổi, có nguyện vọng sống chung với mẹ (bà N) sau khi cha mẹ ly hôn với nhau nên căn cứ vào nguyện vọng của cháu T, đồng thời cần ổn định môi trường sống, ổn định tâm lý con chưa thành niên nên quyết định giao cháu T cho bà N tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định pháp luật cho ông Nguyễn Văn N1. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Bà N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ chồng sau khi ly hôn: Các đương sự không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí sơ thẩm: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 của Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bà Phùng Mộng N phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm số tiền 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0008312, ngày 29/04/2026 của Cơ quan Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ. Ông Nguyễn Văn N1 không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 266; Điều 271, Điều 273, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 1 Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

* Tuyên xử:

1/ Về quan hệ hôn nhân: Bà Phùng Mộng N được ly hôn với ông Nguyễn Văn N1.

2/ Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hồng T, sinh ngày 16/07/2008 cho bà Phùng Mộng N chăm sóc, nuôi dưỡng đến đủ 18 (mười tám) tuổi. Ông Nguyễn Văn N1 có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định của pháp luật. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

3/ Về tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn: Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

4/ Về án phí dân sự sơ thẩm:

Buộc bà Phùng Mộng N phải chịu án phí là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Bà Phùng Mộng N được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0008312, ngày 29/04/2026 của cơ quan Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ.

Ông Nguyễn Văn N1 không phải chịu án phí.

5/ Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ.

6/ Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung.

Cỡ chữ