vanban.org

Bản án 150/2023/HSST — Hình sự

TAND TP. Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên Tuyên án 27/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt bị cáo Lò Văn N 01 năm 02 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ (ngày 28/3/2023) Vật chứng: Căn cứ: Điểm a, c Khoản 1, khoản 2 Điều 47/BLHS; Điểm a, c Khoản 2; Điểm b Khoản 3 Điều 106/BLTTHS. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lường Văn N - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ Đ
TỈNH ĐIỆN BIÊN
Bản án số:150/2023/HSST
Ngày 27/7/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Đ, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bạc Thị Liên

Các hội thẩm nhân dân:

1. Bà Hoàng Thị Thái

2. Ông Vũ Văn Quỳnh

- Thư ký phiên toà:Bà Nguyễn Thị Thương H - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Đ

- Đại diện VKSND Thành Phố Đ, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Phạm Văn N- Kiểm sát viên.

Ngày 27/7/2023 tại trụ sở Toà án nhân dân thành Phố Đ, tỉnh Điện Biên xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 155/2023/HSST ngày 12/7/2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số:150/2023/QĐXX-HS ngày 14/7/2023 đối với bị cáo:

1. Họ và tên: Lò Văn N .Tên gọi khác:Không Sinh năm 1982. Tại tỉnh Điện Biên. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Bản Y 1, xã M, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên; Dân tộc: Thái; Quốc tịch: Việt nam. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Làm ruộng. Trình độ văn hoá: 12/12; Chức vụ đoàn thể: Đảng viên đảng cộng sản việt nam đã bị đình chỉ sinh hoạt theo QĐ số 71 ngày 19/4/2023. Con ông: Lò Văn O, con bà: Lò Thị Ú; Gia đình bị cáo có 4 anh em, bị cáo là con thứ 3 trong gia đình. Bị cáo chưa có vợ, con;Tiền sự: Không;Tiền án: Không: Nhân thân: Chưa bị xử phạt hành chính, chưa bị Tòa xét xử.

Bị cáo bị bắt tạm giữ trong vụ án này ngày 28/3/2023, bị cáo có mặt tại phiên toà.

2. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Lò Văn Tu, sinh năm 1996 và chị Cà Thị T, sinh năm 2002. Địa chỉ: Bản Y, xã M, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên (anh T vắng mặt, chị T có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 12 giờ ngày 28/3/2023, N điều khiển xe môtô BKS 27Z1-199.01 từ nhà đến khu vực bản L, xã M, thành phố Đ mục đích tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đến đầu bản L, N gặp và hỏi mua được 01 gói Heroine, gói nilon màu trắng của một người đàn ông không quen biết, đứng ở cạnh đường với giá 200.000đ. N cầm gói Heroine, trong lòng bàn tay trái đi về nhà, cất giấu vào trong túi áo khoác. Hồi 18 giờ 10 phút cùng ngày, N điều khiển xe môtô đến đoạn đường QL279B thuộc bản C 1, xã M thì bị tổ công tác Công an thành phố Đ yêu cầu dừng xe kiểm tra, phát hiện thu giữ tại túi áo khoác phía trước bên trái của N 01 gói Heroine.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng ngày 28/03/2023 đã xác định: Cục chất bột thể rắn màu trắng đục nghi heroine thu giữ khi bắt quả tang của Lò Văn N có khối lượng là 0,28 gam (ký hiệu H) gửi toàn bộ giám định.

Tại bản kết luận giám định số 564/KL-KTHS ngày 04/4/2023 Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đ đã kết luận: Mẫu cục chất bột màu trắng đục ký hiệu H thu giữ của Lò Văn N gửi giám định là chất ma túy loại Heroine. Hoàn lại đối tượng giám định 0,18gam.

Tại bản cáo trạng số 105/CT-VKSTPĐBP ngày 10/7/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ đã truy tố bị cáo Lò Văn N về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện VKSND thành phố Đ vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lò Văn Ninh về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249/ BLHS; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38/BLHS

Xử phạt bị cáo từ 13 tháng đến 15 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Áp dụng Điểm a, c Khoản 1 khoản 2 Điều 47/BLHS năm 2015; Điểm a,c Khoản 2; điểm b khoản 3 Điều 106/BLTTHS năm 2015 về xử lý vật chứng.

Căn cứ Khoản 2 Điều 136/ BLTTHS năm 2015 và Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 về án phí lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo cũng hoàn toàn nhất trí với quan điểm truy tố và luận tội của VKSND thành phố Đ không có ý kiến tranh luận, lời nói sau cùng của bị cáo: Ngoài xin giảm nhẹ hình phạt không có ý kiến gì khác.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của các bị cáo tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Xét hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng: Hồi 18 giờ 10 phút ngày 28/3/2023 tại khu vực bản C, xã M, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên, Lò Văn N đã có hành vi cất giấu trái phép trên người 0,28 gam Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân. Nguồn gốc số ma túy có được là do mua của một người đàn ông không biết tên tại bản L, xã M với giá 200.000đ sau khi mua được N đem về nhà chưa kịp sử dụng thì bị bắt quả tang.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã hoàn thành và được thực hiện bằng lỗi cố ý trực tiếp. Vật chứng thu giữ của bị cáo đã được cân xác định khối lượng là 0,28 gam kết luận giám định là chất ma túy loại Heroine. Lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng; Kết luận giám định; Kết luận điều tra, các bản cung có trong hồ sơ vụ án cũng như cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo. Từ những chứng cứ nêu trên đủ cơ sở kết luận: Hành vi tàng trữ 0,28 gam Heroine trên người, mục đích để sử dụng của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249/BLHS.

C¸o tr¹ng cña VKSND thành phố Đ ®· truy tè bÞ c¸o lµ ®óng ng êi, ®óng téi, ®óng ph¸p luËt. BÞ c¸o cã ®Çy đủ n¨ng lùc ®Ó chÞu tr¸ch nhiÖm h×nh sù tr íc ph¸p luËt vÒ hµnh vi ph¹m téi cña m×nh ®· g©y ra.

. XÐt tÝnh chÊt møc ®é ph¹m téi cña bÞ c¸o th× hµnh vi tàng trữ tr¸i phÐp chÊt ma túy lµ hµnh vi nguy hiÓm cho x· héi, tội phạm mà bị cáo thực hiện thuộc trường hợp nghiêm trọng lµm ¶nh h ëng ®Õn trËt tù trÞ an, an toàn x· héi. Hµnh vi ph¹m téi cña bÞ c¸o ®· x©m ph¹m ®Õn chÝnh s¸ch ®éc quyÒn qu¶n lý cña Nhµ n íc vÒ chÊt ma tuý. BÞ c¸o nhËn thøc ® îc t¸c h¹i cña ma tuý, nhËn thøc ® îc hµnh vi tàng trữ tr¸i phÐp chÊt ma tuý lµ vi ph¹m ph¸p luËt. Song vì nhu cầu của bản thân bÞ c¸o ®· bÊt chÊp vµ cè t×nh vi ph¹m. Nªn cÇn ph¶i xö lý bị cáo nghiêm minh theo quy ®Þnh cña ph¸p luËt.

. Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Lò Văn N HĐXX thấy rằng: Sinh ra và lớn lên tại xã M thành phố Đ, bản thân được gia đình cho ăn học hết lớp 12, là đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam đã bị đình chỉ sinh hoạt đảng ngày 19/4/2023.

Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, có bố đẻ ông Lò Văn Ó được nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51/BLHS. Xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy cần phải áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội để bị cáo tiếp tục cai nghiện cải sửa lỗi lầm trở thành người công dân tốt cho gia đình và xã hội. Xét đề nghị của VKS là phù hợp HĐXX chấp nhận.

. Ngoài hình phạt chính là phạt tù thì bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 249/BLHS là phạt tiền từ 05 triệu đồng đến 500 triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. XÐt kinh tÕ bÞ c¸o khã kh¨n, bản thân lại nghiện chất ma tuý. Nªn kh«ng cã ®iÒu kiÖn ®Ó thi hµnh. Héi ®ång xÐt xö kh«ng ¸p dông h×nh ph¹t bæ sung ®èi víi bÞ c¸o.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo, do không đủ căn cứ nên cơ quan điều tra không xác minh làm rõ được. HĐXX không xem xét.

. Về hành vi và các Quyết định của cơ quan người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, Điều tra viên, kiểm sát viên. Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục đảm bảo theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì do đó các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng là hợp pháp được chấp nhận.

. Vật chứng của vụ án cần áp dụng Điểm a, c khoản 1 Điều 47/BLHS năm 2015; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106/BLTTHS năm 2015 về xử lý vật chứng.

Tịch thu tiêu huỷ M: 0,18 gam Heroine được hoàn lại sau giám định;01 mảnh nilon màu trắng.

- Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 27Z1- 199.01 mà bị cáo Ninh sử dụng để đi mua ma túy là xe của anh Lò Văn T (cháu ruột của bị cáo), anh T giao chiếc xe cho vợ là chị Cà Thị T dùng làm phương tiện đi lại, chị T, anh T không biết N sử dụng chiếc xe mô tô vào việc phạm tội. Anh T có đơn xin chiếc xe vì là phương tiện đi lại duy nhất của gia đình nên HĐXX xét thấy đây là tài sản hợp pháp của anh T và chị T cần trả lại chiếc xe cho anh Lò Văn T kèm theo 01 giấy chứng nhận đăng ký xe môtô, xe gắn máy số 27004588 mang tên Lò Văn T kèm 01 chìa khóa xe.

.Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136/ BLTTHS năm 2015 và Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 về án phí lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38/ BLHS; Điều 331, Điều 333/BLTTHS

1. Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

2. Xử phạt bị cáo Lò Văn N 01 năm 02 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ (ngày 28/3/2023)

3. Vật chứng: Căn cứ: Điểm a, c Khoản 1, khoản 2 Điều 47/BLHS; Điểm a, c Khoản 2; Điểm b Khoản 3 Điều 106/BLTTHS.

Tịch thu tiêu huỷ M: 0,18 gam Heroine được hoàn lại sau giám định.

01 mảnh nilon màu trắng

+ Trả lại cho anh Lò Văn T, trú tại bản Yên 1, xã M, thành phố Đ: 01 chiếc xe máy biển kiểm soát 27Z1-199.01 nhãn hiệu Honda Winner màu sơn cam đen. Số máy: KC26E1105221

Số khung: RLHKC2609GY070711, xe có một gương chiếu hậu bên trái, vỏ xe có nhiều vết trầy xước, Xe cũ, đã qua sử dụng, mang tên Lò Văn T, kèm theo 01 giấy chứng nhận đăng ký xe môtô, xe gắn máy số 27004588 mang tên Lò Văn T cấp ngày 27/2/2021.01 chìa khóa xe.

(Vật chứng đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ chuyển cho Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đ vào ngày 12/7/2023 đặc điểm vật chứng mô tả theo biên bản giao nhận).

4. Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136/BLTTHS năm 2015 và Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 về án phí lệ phí Tòa án bị cáo Lò Văn N phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

5. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 27/7/2023).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án chính, hoặc bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ