- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Ngọc T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo Đặng Ngọc T
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU TỈNH NGHỆ AN ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 150/2023/HS-ST Ngày: 22-9-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung
Các hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Hồng Thông và bà Cao Thị Hải An
- Thư ký phiên toà: bà Lê Hải Sâm - Thư ký TAND huyện Diễn Châu
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu tham gia phiên tòa: bà Tăng Thị Thu Hường - Kiểm sát viên
Ngày 22 tháng 9 năm 2023, Tòa án nhâ n dân huyện Diễn Châu, Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 123/2023/TLST-HS ngày 28/8/2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 205/2023/QĐXXST-HS ngày 08/9/2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Đặng Ngọc T; tên gọi khác: Không; sinh năm 1994 tại huyện Q, tỉnh Nghệ An; Nơi thường trú: thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Ngọc Đ (đã chết) và bà Nguyễn Thị P; Vợ: Nguyễn Thị Như Q, sinh năm 2004, con: có 01 con sinh tháng 7/2023; anh chị em ruột có 03 người, bị cáo là con thứ nhất; Tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/6/2023 đến nay. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 01 giờ 30 phút ngày 05/6/2023, khi T đang ở nhà tại thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An thì nảy sinh ý định mua ma túy về sử dụng. Tài gọi điện thoại cho một nam thanh niên không quen biết nói “bán cho em một triệu rưỡi hồng”, nghĩa là T muốn mua 1.500.000 đồng tiền ma túy hồng phiến, thì người kia đồng ý. Cả hai hẹn nhau ra khu vực Trạm y tế xã D, huyện D để giao nhận tiền và ma túy. T điều khiển xe máy Honda Wave Anpha màu xanh, biển kiểm soát 37L3 – 014.18 đi từ nhà đến điểm hẹn. Khi đến nơi, Tài gặp một nam thanh niên cao, gầy, khoảng 20 tuổi rồi đưa cho người này 1.500.000 đồng. Người này cầm tiền rồi đưa cho Tài 01 (một) gói ni lông màu xanh bên trong có chứa 25 (hai mươi lăm) viên ma túy hồng phiến. Tài cầm gói ma túy rồi bỏ vào bao thuốc lá Thăng Long màu vàng và cất vào túi quần phía trước bên trái đang mặc rồi đi về nhà. Đến khoảng 02 giờ 30 phút, khi T đi đến khu vực Quốc lộ 1A thuộc thôn Đ, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An thì bị Trạm Cảnh sát giao thông Diễn Châu thuộc Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Nghệ An kiểm tra, bắt quả tang về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ trong túi quần phía trước bên trái của Tài 01 gói thuốc Thăng Long màu vàng, bên trong có 01 gói ni lông màu xanh, bên trong có chứa 25 (hai mươi lăm) viên nén màu hồng có đặc điểm giống nhau, nghi là ma túy; thu giữ 01 điện thoại di động Nokia màu đen và 01 xe máy Honda Wave Anpha.
Tại biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại ngày 05/6/2023 và tại bản kết luận giám định số 590/KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 08/6/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: “Mẫu viên nén màu hồng thu giữ của Đặng Ngọc T gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine. Số viên nén màu hồng có đặc điểm giống nhau thu giữ của Đặng Ngọc T có tổng khối lượng là 2,3g (hai phẩy ba gam)”.
Tại Cơ quan điều tra, Đặng Ngọc T thừa nhận số ma túy bị lực lượng Công an thu giữ là của T mua về để sử dụng.
Về thu giữ và xử lý vật chứng: 01 bao thuốc lá Thăng Long màu vàng bên trong có chứa 01 gói ni lông màu xanh, bên trong có chứa 25 (hai mươi lăm) viên ma túy Methamphetamine có tổng khối lượng là 2,3g (hai phẩy ba gam). Cơ quan điều tra đã lấy 05 viên có tổng khối lượng là 0,5g (không phẩy năm gam) trưng cầu giám định. Hiện còn 20 (hai mươi) viên có tổng khối lượng là 1,8g (một phẩy tám gam) là số ma túy còn lại sau khi lấy mẫu giám định; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long và 01 túi ni lông màu xanh được niêm phong vào một phong bì thư. 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, đã qua sử dụng, số Imei1: 864470025207036; Imei2: 864470025208034 (Toàn bộ số vật chứng hiện đang được bảo quản tại Kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự huyện Diễn Châu).
Đối với xe máy Honda Wave Anpha biển kiểm soát 37L3-014.18 của bà Nguyễn Thị P là mẹ của Đặng Ngọc T, khi T sử dụng xe máy đi mua ma túy bà P không biết nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà P.
Tại Bản cáo trạng số 127/CT-VKS-DC ngày 24/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu đã truy tố bị cáo Đặng Ngọc T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt: Đặng Ngọc T từ 27 đến 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo; Về vật chứng: áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau khi lấy mẫu giám định; tịch thu sung sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 7, màu đen, đã qua sử dụng; Về án phí: buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Tại phiên tòa, bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội, không tranh luận gì mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Diễn Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về nội dung:
. Tại phiên tòa, bị cáo Đặng Ngọc T khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo, lời khai của những người tham gia tố tụng khác trong quá trình điều tra, phù hợp các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, nên đủ căn cứ kết luận: Vào khoảng 02 giờ 30 phút ngày 05/6/2023, tại km 419+600 Quốc lộ 1A thuộc thôn Đông Kỷ, xã Diễn Kỷ, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, Đặng Ngọc T đã có hành vi tàng trữ trái phép 2,3g (hai phẩy ba gam) ma túy Methamphetamine để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang. Như vậy, hành vi mà Đặng Ngọc T thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 của Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ.
. Về tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Vụ án thuộc loại nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước Việt Nam đối với chất ma túy, làm ảnh hưởng đến an ninh, trật tự xã hội. Vì vậy, cần xử phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, có thái độ khai báo thành khẩn tỏ ra ăn năn hối cải, bản thân bị cáo trong thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự tại Đại đội thông tin thuộc Lữ đoàn xe tăng 215 đã được tặng danh hiệu chiến sỹ tiên tiến nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có việc làm thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
. Đối với nam thanh niên bán ma túy cho Tài, do không có thông tin, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để xác minh, xử lý.
Đối với bà Nguyễn Thị Ph, do bà P không biết T sử dụng xe máy để đi mua ma túy nên bà P không phạm tội.
. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Đối với số ma túy thu giữ của Đặng Ngọc T còn lại sau khi lấy mẫu giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia7, màu đen, đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo là công cụ phạm tội cần tịch thu hóa giá sung ngân sách Nhà nước; Đối với 01 xe mô tô hiệu Honda Wave Anpha biển kiểm soát 37L3-014.18 của bà Nguyễn Thị P là mẹ của Đặng Ngọc T, khi T sử dụng xe máy đi mua ma túy bà P không biết nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà P là đúng quy định.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt Đặng Ngọc T 30 (Ba mươi) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/6/2023.
Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo Đặng Ngọc T
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của Đặng Ngọc T sau khi lấy mẫu giám định còn lại khối lượng là 1,8 gam; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng; 01 gói nilon màu xanh và 01 phong bì thư niêm phong ban đầu.
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, đã qua sử dụng thu giữ của Đặng Ngọc Tài.
(Vật chứng trên hiện có tại Kho vật chứng Chi Cục thi hành án dân sự huyện Diễn Châu theo Phiếu nhập kho số NK0160 ngày 28/8/2023).
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc Đặng Ngọc T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND tỉnh Nghệ An; - VKSND huyện Diễn Châu; - Chi cục THADS huyện Diễn Châu; - Công an huyện Diễn Châu; - Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. | Nguyễn Thị Hồng Nhung |