vanban.org

Bản án 150/2023/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Sóc Trăng Tuyên án 19/12/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Thanh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thanh H 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29 tháng 6 năm 2023. Xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Thanh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 150/2023/HS-ST
Ngày 19-12-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Tấn Vinh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Văn Châu

Ông Nguyễn Phước

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thuận là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Ánh Hồng và bà Lê Kiều M - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 12 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 143/2023/TLST-HS ngày 22 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 148/2023/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Thanh H, sinh ngày 01/12/1999; Nơi sinh: Sóc Trăng; Nơi cư trú: số A, đường X, khóm C, phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 08/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nữ; Tôn giáo: phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Phước H1 và bà Quách Kim H2; Chồng: Nguyễn Bé T, con chưa có; Tiền án: không; Tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29 tháng 6 năm 2023 và chuyển tạm giam cho đến nay (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 23 giờ 10 phút, ngày 29 tháng 6 năm 2023, Phòng CSĐT tội phạm về ma túy Công an tỉnh S kết hợp Đội CSĐT tội phạm về ma túy Công an thành phố Trăng và Công an phường F, thành phố S tiến hành kiểm tra hành chính Nhà nghỉ số 145/41, đường X, khóm C, phường F, thành phố S. Qua kiểm tra tại Phòng số 02 của Nguyễn Thị Thanh H phát hiện 01 gói nylon được hàn kín bên trong có chất rắn màu trắng để trong hộp nhựa màu xanh để trên tủ lạnh nghi vấn là chất ma túy nên tiến hành thu giữ và niêm phong ký hiệu "MT", 01 bình thủy tinh có gắn một đoạn ống thủy tinh có quấn băng keo màu đen đầu hình tròn và gắn ống hút màu đen. Phát hiện bên trong bịch nylon màu đen có 02 khối kim loại hình súng: một súng dài 16 cm, bán súng dài 08 cm x rộng 04 cm, bán súng quẫn băng keo màu đen và một súng dài 17 cm bắn súng dài 08 cm x rộng 4,5 cm bán súng quẫn băng keo màu đen; Một hộp kim loại màu xanh có chữ Bcrocca bên trong chứa 15 viên đạn màu vàng đồng, dài 25 mm, đường kính 07 mm dưới một đầu có chữ "C", 04 võ đạn màu vàng đồng. Công an đã tiến hành niêm phong thu giữ ký hiệu "S".

Trong quá trình điều tra Cơ quan diều tra đã xác định được: Bị can Nguyễn Thị Thanh H bắt đầu sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2020 cho đến ngày bị bắt. Vào khoảng 19 giờ 00 phút, ngày 29/6/2023, H đang ở phòng số 2, còn đối tượng Trần Văn V (chưa xác định được năm sinh và địa chỉ đăng ký thường trú) thì ở phòng số 5, cùng nhà nghi với H, lúc này V đi qua phòng rủ H hùn tiền mua ma túy về sử dụng, H đồng ý rồi đưa cho V số tiền 300.000 đồng, sau đó V đi mua ma túy, khi V đi mua ma túy về V vào phòng số 5 của V, lúc này trong phòng của V thì có Trương Thanh T1 là bạn của V và cả hai cùng nhau sử dụng ma túy, còn H đi từ phòng của H qua phòng của V để sử dụng ma túy, khi qua phòng của V thì đã thấy ma túy có sẵn trong nó, ma túy trong nó từ đầu có thì H không biết, lúc này H, V, T1 cùng nhau sử dụng ma túy. Trong quá trình sử dụng ma túy thì H thấy trên nệm có 01 gói ma túy đá, H sử dụng cùng với V, T1 hết ma túy trong nó thì H đi về phòng. Khoảng 10 phút sau thì V đi qua phòng H đưa cho H 01 (một) gói ma túy đá kêu H cất giữ để V đi công chuyện xong về tiếp tục sử dụng, H đồng ý, trước khi đi V để gói ma túy trên đầu tủ lạnh trong phòng H, H mới lấy gói ma túy để vào hộp nhựa màu xanh. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày thì Công an đến kiểm tra hành chính nhà nghỉ, khi kiểm tra phòng số 2 của H thì phát hiện 01 (một) gói nylon được hàn kín bên trong có chất rắn màu trắng để trọng hộp nhựa màu xanh để trên tủ lạnh, 01 (một) bình thủy tinh có gắn một đoạn ống thủy tỉnh có quấn băng keo màu đen đầu hình tròn và gắn ống hút màu đen, nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với H cùng tang vật.

Tại Kết luận giám định số: 104/KLMT-KTHS, ngày 08 tháng 7 năm 2023 của Phòng K Công an tỉnh S, kết luận: Mẫu tinh thể rắn màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng là 0,3706 gam, loại Methamphetamine.

Tại bản Cáo trạng số 141/CT-VKS.TPST ngày 20 tháng 11 năm 2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Thanh H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thanh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Đề nghị áp dụng điểm c, khoản 1, Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo, xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

Xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c, khoản 1, Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

- Tịch thu tiêu huỷ:

+ 01 (một) gói niêm phong vụ số 104/KLMT-KTHS, ngày 08 tháng 07 năm 2023 của Phòng K, Công an tỉnh S có chữ ký của Giám định viên Phạm Thanh Trường S, trợ lý giám định Nguyễn Văn Đ, Huỳnh Ngọc T2;

+ 01 (một) bình thủy tỉnh có gắn một đoạn ống thủy tinh có quấn băng keo màu đầu hình tròn và gắn ống hút nhựa màu đen;

+ 01 (một) bịch nylon màu xám;

+ 01 (một) thùng giấy có chữ “T3 nhân 5272”;

- Trả lại cho bị cáo: 01 (một) điện thoại di động màu vàng, có chữ OPPO.

Về án phí: Đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Tại phiên toà, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, thừa nhận Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng tội. Bị cáo nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra và truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Ngoài ra, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định pháp luật.

. Lời khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa là hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như các chứng cứ và tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:

Vào khoảng 19 giờ 00 phút, ngày 29/6/2023, bị cáo Nguyễn Thị Thanh H ở phòng số 2 nhà nghỉ số A, đường X, khóm C, phường F, thành phố S, còn đối tượng Trần Văn V (chưa xác định được năm sinh và địa chỉ đăng ký thường trú) thì ở phòng số 5, cùng nhà nghỉ với bị cáo, lúc này V đi qua phòng rủ bị cáo hùn tiền mua ma túy về sử dụng, bị cáo đồng ý rồi đưa cho V số tiền 300.000 đồng, sau đó V đi mua ma túy, khi V đi mua ma túy về V vào phòng số 5, lúc này trong phòng của V thì có Trương Thanh T1 là bạn của V và cả hai cùng nhau sử dụng ma túy, còn bị cáo H đi từ phòng của bị cáo qua phòng của V để sử dụng ma túy, khi qua phòng của V thì đã thấy ma túy có sẵn trong nó, ma túy trong nó từ đầu có thì bị cáo H không biết, lúc này bị cáo, V, T1 cùng nhau sử dụng ma túy. Trong quá trình sử dụng ma túy thì bị cáo H thấy trên nệm có 01 gói ma túy đá, sử dụng cùng với V, T1 hết ma túy trong nó thì bị cáo đi về phòng. Khoảng 10 phút sau thì V đi qua phòng bị cáo H đưa 01 gói ma túy đá kêu bị cáo H cất giữ để V đi công chuyện xong về tiếp tục sử dụng, trước khi đi V để gói ma túy trên đầu tủ lạnh trong phòng bị cáo, rồi bị cáo mới lấy gói ma túy để vào hộp nhựa màu xanh. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày thì Công an đến kiểm tra hành chính nhà nghỉ, khi kiểm tra phòng số 2 của H thì phát hiện 01 gói nylon được hàn kín bên trong có chất rắn màu trắng để trọng hộp nhựa màu xanh để trên tủ lạnh, 01 bình thủy tinh có gắn một đoạn ống thủy tỉnh có quấn băng keo màu đen đầu hình tròn và gắn ống hút màu đen, nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng tang vật. Qua giám định ma túy có khối lượng 0,3706 gam, loại Methamphetamine.

Hành vi tàng trữ 0,3706 gam, loại Methamphetamine, cất giấu nhằm mục đích sử dụng của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách quản lý độc quyền về chất ma túy của Nhà nước, đồng thời còn làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật do hành vi của bị cáo đã gây ra. Do đó, Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Nguyễn Thị Thanh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Như vậy, Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng truy tố bị cáo là có căn cứ pháp luật, không oan sai cho bị cáo nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

. Đối với người thanh niên tên V là người hùn tiền cùng bị cáo sử dụng ma tuý, do không rõ họ tên và địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra chưa làm việc được, khi nào làm việc được sẽ xử lý sau

. Đối với hành vi chế tạo, tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng của Nguyễn Thị Thanh H cùng vật chứng có liên quan thì Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S đã chuyển cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S thụ lý giải quyết theo thẩm quyền.

. Các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Khi phạm tội bị cáo không có tiền án, tiền sự. Sau khi phạm tội trong quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s, khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

. Xử lý vật chứng: Đối với vật chứng là 01 (một) gói niêm phong vụ số 104/KLMT-KTHS, ngày 08 tháng 07 năm 2023 của Phòng K, Công an tỉnh S có chữ ký của Giám định viên Phạm Thanh Trường S, trợ lý giám định Nguyễn Văn Đ, Huỳnh Ngọc T2; 01 (một) bình thủy tỉnh có gắn một đoạn ống thủy tinh có quấn băng keo màu đầu hình tròn và gắn ống hút nhựa màu đen; 01 (một) bịch nylon màu xám; 01 (một) thùng giấy có chữ “T3 nhân 5272” đây là hàng cấm và những tài sản dùng vào việc phạm tội và không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với vật chứng là 01 (một) điện thoại di động màu vàng, có chữ OPPO không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo.

. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

. Xét lời đề nghị của kiểm sát viên về việc áp dụng pháp luật là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Riêng về mức hình phạt mà viện kiểm sát đề nghị cần xử phạt bị cáo ở mức trung bình của Kiểm sát viên đề nghị là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c, khoản 1, Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ điểm c, khoản 1, Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Thanh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thanh H 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29 tháng 6 năm 2023.

2. Xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu huỷ:

+ 01 (một) gói niêm phong vụ số 104/KLMT-KTHS, ngày 08 tháng 07 năm 2023 của Phòng K, Công an tỉnh S có chữ ký của Giám định viên Phạm Thanh Trường S, trợ lý giám định Nguyễn Văn Đ, Công an thành phố S Huỳnh Ngọc T2;

+ 01 (một) bình thủy tỉnh có gắn một đoạn ống thủy tinh có quấn băng keo màu đen đầu hình tròn và gắn ống hút nhựa màu đen;

+ 01 (một) bịch nylon màu xám;

+ 01 (một) thùng giấy có chữ "T3 nhân 5272";

- Trả lại cho bị cáo: 01 (một) điện thoại di động màu vàng, có chữ OPPO, được niêm phong ký hiệu “ĐTH”.

3. Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng;

4. Báo cho bị cáo được kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

Cỡ chữ