vanban.org

Bản án 150/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Tạ Bảo N với anh Huỳnh Minh Q.

Chị Tạ Bảo N được ly hôn với anh Huỳnh Minh Q. Về con chung: Giao 02 con chung tên Huỳnh Bảo N1, sinh ngày 30/5/2011 và Huỳnh Minh K, sinh ngày 05/11/2015 cho chị Tạ Bảo N tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh Q không phải cấp dưỡng nuôi con do chị N không yêu cầu. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Tạ Bảo N với anh Huỳnh Minh Q.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GÒ DẦU
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 150/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 29-9-2023.
V/v tranh chấp về ly hôn và
nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Vân.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thanh Văn;

2. Ông Hồ Huy Cường.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Anh Thư – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Minh Tân - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 222/2023/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 5 năm 2023 về tranh chấp ly hôn và nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 152A/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 8 năm 2023 và và Quyết định hoãn phiên tòa số: 65/2023/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 9 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Tạ Bảo N, sinh năm 1990.

Địa chỉ: Ấp C, xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

2. Bị đơn: Anh Huỳnh Minh Q, sinh năm 1986.

Địa chỉ: Ấp C1, xã Đ, huyện G, tỉnh Tây Ninh. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 08 tháng 5 năm 2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Tạ Bảo N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Q tự tìm hiểu và chung sống với nhau vào năm 2010, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh ngày 10/02/2020. Chị và anh Q chung sống hạnh phúc đến khoảng tháng 4/2022 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân là do anh Q chơi cờ bạc gây nợ nần, vợ chồng thường xuyên gây gỗ nhau và chị cũng có khuyên anh Q nhiều lần nhưng anh vẫn không thay đổi. Đến khoảng tháng 08/2022 anh Q bỏ về bên nhà cha mẹ ruột sống và ly thân với chị cho đến nay. Chị cũng có nhiều lần nói chuyện với anh Q và khuyên anh Q quay lại cùng chung sống và cùng lo cho con cái nhưng anh Q vẫn không đồng ý và anh Q vẫn tiếp tục chung sống bên nhà anh Q cho đến nay, anh Q không có thiện chí để hòa giải hàn gắn gia đình với chị, chị và anh Q cũng có gặp nhau nhưng vẫn không hòa giải, hàn gắn gia đình được. Nên nay chị và anh Q không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Huỳnh Minh Q.

Về con chung: Chị và anh Q có hai con chung tên Huỳnh Bảo N1, sinh ngày 30/5/2011 và Huỳnh Minh K, sinh ngày 05/11/2015. Hiện tại con chug đang sống chung với chị. Khi ly hôn, chị yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Chị trình bày không có nên không đặt ra giải quyết.

Đối với bị đơn – anh Huỳnh Minh Q trình bày (Tại bản tự khai ngày 04/7/2023 và biên bản hòa giải ngày 28/7/2023):

Về quan hệ hôn nhân: Anh thống nhất với lời trình bày của chị N về hôn nhân, về con chung, về tài sản chung và nợ chung. Tuy nhiên, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do anh làm ăn thua lỗ, bị nợ nần nên anh muốn kiếm thêm thu nhập nên mới dính vào cờ bạc. Anh về nhà anh sống là để làm ăn và trả hết nợ, khinao2 ổn định thì anh mới quay về sống với vợ con. Do vậy, về hôn nhân anh không đồng ý ly hôn với chị N, anh yêu cầu được đoàn tụ để cùng lo cho con.

Về con chung: Anh và chị N có 02 con chung tên Huỳnh Bảo N1, sinh ngày 30/5/2011 và Huỳnh Minh K, sinh ngày 05/11/2015. Hiện tại con chug đang sống chung với chị N. Nếu ly hôn, anh tôn trọng nguyện vọng của con, con theo ai thì người đó nuôi, anh không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Anh trình bày không có nên không đặt ra giải quyết.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu tham gia phiên Tòa trình bày:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, thư ký và Hội đồng xét xử: Thẩm phán, thư ký thụ lý giải quyết đúng thẩm quyền, việc thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và ra quyết định đưa vụ án ra xét xử đều đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chị Tạ Bảo N có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn là anh Huỳnh Minh Q đã được tống đạt giấy triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị N, anh Q là đúng theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu chưa thấy vấn đề vi phạm tố tụng nên đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử theo quy định.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Tạ Bảo N, cho chị N được ly hôn với anh Huỳnh Minh Q. Về con chung: Áp dụng Điều 81, Điều 82 và Điều 83 giao 02 con chung tên Huỳnh Bảo N1, sinh ngày 30/5/2011 và Huỳnh Minh K, sinh ngày 05/11/2015 cho chị N tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục, chị N không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Chị N, anh Q trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Áp dụng Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 chị Tạ Bảo N phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đương sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Chị Tạ Bảo N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Anh Huỳnh Minh Q được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do. Do đó Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị N, anh Q theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự là phù hợp theo quy định của pháp luật.

Về quan hệ hôn nhân: Chị N, anh Q trên cơ sở tự nguyện và đi đến hôn nhân từ năm 2010 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh ngày 10/02/2020 nên hôn nhân của anh chị là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Theo chị N trình bày mâu thuẫn phát sinh là do vợ chồng chung sống nhưng thường xuyên gây gỗ nhau do anh Q chơi cờ bạc gây nợ nần, chị có khuyên cam nhưng anh Q vẫn không thay đổi. Tại bản tự khai ngày 04/7/2023 và biên bản hòa giải ngày 28/7/2023, anh Q cũng thừa nhận, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do anh làm ăn thua lỗ, bị nợ nần, anh muốn kiếm thêm thu nhập nên mới dính vào cờ bạc nên chị N yêu cầu ly hôn với anh nhưng anh không đồng ý ly hôn với chị N.

Hội đồng xét xử xét thấy: Việc phát sinh mâu thuẫn giữa chị N và anh Q là có, cả hai điều thừa nhận vợ chồng chung sống nhưng thường xuyên gây gỗ nhau và hiện tại hai anh chị đã sống ly thân với nhau từ khoảng tháng 08/2022 cho đến nay mà vẫn không hòa giải, hàn gắn gia đình được. Do đó, căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị N, cho chị N được ly hôn với anh Q là phù hợp.

Về con chung: Chị Tạ Bảo N và anh Huỳnh Minh Q có 02 con chung tên Huỳnh Bảo Như, sinh ngày 30/5/2011 và Huỳnh Minh Khôi, sinh ngày 05/11/2015, hiện tại con chung đang sống chung với chị N. Nay ly hôn, chị N yêu cầu được nuôi 02 con chung. Hội đồng xét xử xét thấy: Hiện tại hai cháu N1 và cháu K đang sống chung với chị N, từ ngày ly thân cho đến nay chị N vẫn nuôi con tốt, mặt khác, qua làm việc hai cháu có nguyện vọng được sống chung với chị N. Do vậy, cần giao hai cháu N1 và cháu K cho chị N tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục là phù hợp theo quy định tại Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về việc cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn, chị N không yêu cầu anh Q phải cấp dưỡng nuôi con chung do vậy nên ghi nhận.

Anh Huỳnh Minh Q có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở

Về tài sản chung: Chị Tạ Bảo N và anh Huỳnh Minh Q không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Chị Tạ Bảo N và anh Huỳnh Minh Q trình bày không có nên không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Chị Tạ Bảo N phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Tạ Bảo N với anh Huỳnh Minh Q.

Chị Tạ Bảo N được ly hôn với anh Huỳnh Minh Q.

2. Về con chung: Giao 02 con chung tên Huỳnh Bảo N1, sinh ngày 30/5/2011 và Huỳnh Minh K, sinh ngày 05/11/2015 cho chị Tạ Bảo N tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh Q không phải cấp dưỡng nuôi con do chị N không yêu cầu.

Anh Huỳnh Minh Q có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở .

3. Về tài sản chung: Chị Tạ Bảo N và anh Huỳnh Minh Q không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về nợ chung: Chị Tạ Bảo N và anh Huỳnh Minh Q trình bày không có nên không đặt ra giải quyết.

5. Về án phí: Chị Tạ Bảo N phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm hôn nhân và gia đình, khấu trừ tiền tạm ứng án phí chị N đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0025502 ngày 16 tháng 5 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh. Chị N đã nộp xong tiền án phí hôn nhân sơ thẩm

Anh Huỳnh Minh Q không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

Chị N, anh Q có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ