- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Triết - Nương"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Không công nhận ông Trần Văn Tr và bà Lê Kiều N là vợ chồng.
| TÒA ÁN NHÂN D ÂN HUYỆN CÁI NƯỚC TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 150/2023/HNGĐ-ST Ngày: 18 – 7 – 2023 “V/v Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đệ
Các vị Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Hoàng Bé
Ông Nguyễn Tấn Lộc
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Vui là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.
Ngày 18 tháng 7 năm 2023 tại Tòa án nhân dân huyện Cái Nước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 248/2023/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 4 năm 2023, về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 136/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Văn Tr, sinh năm 1967 (Có mặt)
Địa chỉ cư trú: Ấp RD, xã HM, huyện CN, tỉnh Cà Mau
- Bị đơn: Bà Lê Kiều N, sinh năm 1976 (Vắng mặt)
Địa chỉ cư trú: Khóm N, thị trấn CN, huyện CN, tỉnh Cà Mau
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 20 – 4– 2023, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Trần Văn Tr trình bày:
Về hôn nhân: Ông và bà Lê Kiều N chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1994 nhưng đến nay không đăng ký kết hôn. Ông và bà N chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống dẫn đến thường xuyên cãi nhau, ông và bà N đã sống ly thân từ năm 2020 cho đến nay. Nay xét thấy đời sống vợ chồng không còn hạnh phúc nên ông yêu cầu được ly hôn với bà Lê Kiều N.
Về con chung: Trong quá trình chung sống giữa ông và bà N có 02 người con chung tên Trần Minh Nh, sinh năm 1997 và Trần Như Th, sinh ngày 03/7/2007. Hiện con tên Trần Minh Nh đã trưởng thành nên ông không yêu cầu Toà án giải quyết, đối với con tên Trần Như Th đang sống với bà N. Sau khi ly hôn ông yêu cầu giao con tên Trần Như Th cho bà N tiếp tục nuôi dưỡng, ông không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Ông và bà N tự thoả thuận không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về nợ chung: Ông và bà N không có nợ chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Đối với bà Lê Kiều N Tòa án đã tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; triệu tập bà N để tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm đến lần thứ hai nhưng bà N vắng mặt không có lý do.
TÒA ÁN NHẬN ĐỊNH:
[1] Về tố tụng: Tranh chấp giữa ông Trần Văn Tr và bà Lê Kiều N là tranh chấp Hôn nhân và gia đình về việc Ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bà Lê Kiều N có địa chỉ tại Khóm N, thị trấn CN, huyện CN, tỉnh Cà Mau. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Cái Nước thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bà Lê Kiều N đã được Toà án triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Cái Nước xét xử vắng mặt đối với bà N theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về hôn nhân: Ông Trần Văn Tr và bà Lê Kiều N chung sống như vợ chồng từ năm 1994 nhưng không có đăng ký kết hôn nên đây là hôn nhân không hợp pháp, không được pháp luật thừa nhận. Theo quy định tại khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình thì Hội đồng xét xử tuyên bố không công nhận quan hệ giữa ông Trần Văn Tr và bà Lê Kiều N là vợ chồng.
[3] Về con chung: Trong quá trình chung sống giữa ông Tr và bà N có 02 người con chung gồm Trần Minh Nh, sinh năm 1997 và Trần Như Th, sinh ngày 03/7/2007. Đối với con Trần Minh Nh đã trưởng thành và có khả năng lao động để nuôi sống bản thân nên ông Tr không yêu cầu Toà án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Đối với con Trần Như Th, sinh ngày 03/7/2007 tính đến ngày xét xử sơ thẩm đã trên 07 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi, theo quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình “Vợ chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Hội đồng xét xử nhận thấy, ông Tr và bà N không thỏa thuận người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, ông Tr yêu cầu giao con cho bà N tiếp tục nuôi dưỡng, bà N không có ý kiến. Tại Biên bản ghi nhận ý kiến ngày 06/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện Cái Nước đối với cháu Thảo thì cháu Thảo trình bày nguyện vọng muốn được sống với mẹ là bà Lê Kiều N. Đây là ý chí tự nguyện của cháu Thảo và phù hợp với yêu cầu của ông Tr, đồng thời từ khi ly thân cho đến nay cháu Thảo do bà N trực tiếp nuôi dưỡng đã ổn định về đời sống. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông Tr, giao con tên Trần Như Th cho bà N tiếp tục nuôi dưỡng. Ông Tr không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con không ai được cản trở.
Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con, bà N không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
[4] Về tài sản chung: Ông Tr xác định về tài sản chung ông Tr và bà N tự thoả thuận không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[5] Về nợ chung: Ông Tr xác định về nợ chung ông Tr và bà N không có nợ chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Bà N vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án và không có ý kiến gì về tài sản chung và nợ chung. Nếu sau này giữa các bên đương sự có phát sinh tranh chấp về tài sản chung và nợ chung thì có quyền khởi kiện thành vụ kiện khác theo quy định pháp luật.
[6] Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm ông Trần Văn Tr phải chịu 300.000 đồng theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì caùc leõ treân;
QUYẾT ĐỊNH:
Các Điều 28; 35; 39; 147, 227, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015; Các Điều 9, 14, 53, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Về hôn nhân: Không công nhận ông Trần Văn Tr và bà Lê Kiều N là vợ chồng.
Về con chung: Giao con chung tên Trần Như Th, sinh ngày 03/7/2007 cho bà Lê Kiều N tiếp tục nuôi dưỡng. Ông Trần Văn Tr không phải cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông Trần Văn Tr phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng, đối trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009064 ngày 20/4/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cái Nước, ông Tr đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Bà Lê Kiều N không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Trường hợp Bản án (Quyết định) được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai ông Trần Văn Tr có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Lê Kiều N có quyền kháng cáo bản bán trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
| Nôi nhaän: - VKSND huyện Cái Nước; - Chi cục THADS huyện Cái Nước; - TAND tỉnh Cà Mau; - Đương sự; - Lưu VP-HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Đệ |