- Tranh chấp gì? án hình sự — "Pham Thị L phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Thị L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 150/2022/HS-ST Ngày: 28-10-2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH - TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Tô Thị Thanh Tâm.
2. Ông Trần Minh Hải.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Long – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Lương Thị Quỳnh – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 10 năm 2022, tại Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 136/2022/HSST ngày 05 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 141/2022/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo:
Phạm Thị L, sinh ngày 04/8/1976, tại tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: đường N, tổ x, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nữ; Con ông Phạm Minh T, ông T được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhì và con bà Nguyễn Thị L, bà L được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhất; Bị cáo không có chồng, có 01 con sinh năm 2002; Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân:
1. Bản án số 16/2010/HSST ngày 23/02/2010 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình tuyên phạt Phạm Thị L 03 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/01/2012; ngày 19/6/2010 đã nộp 100.000 đồng sung quỹ nhà nước; Ngày 22/9/2017 nộp 280.000 đồng tiền phạt, còn 4.720.000 đồng và 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm được miễn nghĩa vụ thi hành án theo Quyết định số 25/2018/QĐST-VDS ngày 05/9/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình.
2. Bản án số 24/2013/HSST ngày 26/02/2013 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình tuyên phạt Phạm Thị L 03 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/10/2015, ngày 14/5/2019 đã nộp 210.000 đồng tiền phạt bổ sung, còn lại 4.790.000 đồng và 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm được miễn nghĩa vụ thi hành án theo Quyết định số 02/2019/QĐ-MGTHA ngày 13/9/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình.
Bị tạm giữ từ ngày 31/5/2022 đến 03/6/2022 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình. Có mặt.
- Người chứng kiến:
1. Anh Hà Văn M, sinh năm 1975; Địa chỉ: Tổ x, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt.
2. Chị Vũ Thị Lan Anh, sinh năm 1988; Địa chỉ: Tổ 04, phường Hoàng Diệu, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 31/5/2022 Phạm Thị L đi bộ từ nhà ra khu vực cầu Đổ, phường Quang Trung, thành phố Thái Bình gặp và mua của một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ 5.000.000 đồng được 02 gói ma túy, bên ngoài đều được gói bằng giấy tráng kim màu trắng, đựng trong túi nilong màu đen rồi cất vào túi quần bên phải phía trước Lan đang mặc đi tìm người mua để bán kiếm lời. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, khi Lan đi đến khu vực ngõ 33, đường Ngô Thị Nhậm, tổ 14, phường Quang Trung, thành phố Thái Bình thì bị tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm ma túy, công an tỉnh Thái Binh kết hợp cùng cùng Công an thành phố Thái Bình và phòng Phòng chống tội phạm ma túy, Bộ tư lệnh Cảnh sát biển Việt Nam phát hiện yêu cầu kiểm tra. Trước sự chứng kiến của anh Hà Văn M và chị Vũ Thị Lan Anh, Lan lấy từ túi quần phải phía trước Lan đang mặc ra giao nộp cho tổ công tác 01 gói nilon màu đen. Tổ công tác mở kiểm tra bên trong có 02 gói, bên ngoài đều được gói bằng giấy tráng kim màu trắng, bên trong đều chứa chất bột dạng cục màu trắng, Lan khai nhận là Hêrôin của Lan vừa mua được, mục đích để bán kiếm lời, tổ công tác đã niêm phong 02 gói này theo quy định. Sau đó tổ công tác đã tiến hành kiểm tra thu của Lan 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung màu xanh đen đã cũ, ngoài ra không phát hiện, thu giữ gì khác. Tổ công tác đã đưa Lan, mời những người chứng kiến về trụ sở công an phường Quang Trung để làm việc. Tại đây, tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và biên bản niêm phong vật chứng theo quy định.
Bản kết luận giám định số 188/KL-KTHS(MT) ngày 01/6/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: Mẫu vật trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng là 6,1716 gam (sáu phẩy một nghìn bảy trăm mười sáu gam).
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận như trên. Lời khai của người chứng kiến là chị Vũ Thị Lan Anh và anh Hà Văn M đều thể hiện như lời khai của bị cáo.
Tại bản cáo trạng số 149/CT – VKSTPTB ngày 04/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình truy tố Phạm Thị L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 2, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 31/5/2022. Đề nghị hình phạt bổ sung đối với bị cáo từ 7.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng. Vật chứng của vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy số ma túy trong phong bì niêm phong hoàn trả sau giám định; Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động Sam sung. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có tranh luận gì.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật mong Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh gia đình bị cáo rất khó khăn, bố mẹ già, yếu đau bệnh tật, con bị cáo bị cận nặng đi lại khó khăn nên giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về quyết định tố tụng, hành vi tố tụng: Quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét thấy, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của người chứng kiến và còn được chứng minh bằng: Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thái Bình lập hồi 19 giờ 20 phút ngày 31/5/2022 tại trụ sở Công an phường Quang Trung, thành phố Thái Bình; Biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thái Bình lập hồi 20 giờ 50 phút ngày 31/5/2022; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thái Bình lập hồi 21 giờ 00 phút ngày 31/5/2022 tại trụ sở Công phường Quang Trung, thành phố Thái Bình, thành phố Thái Bình; Bản kết luận giám định số 188/KL-KTHS(MT) ngày 01/6/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Hồi 19 giờ 00 phút ngày 31/5/2022, tại khu vực ngõ 33, đường Ngô Thì Nhậm, tổ 14, phường Quang Trung, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình, tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm ma túy, công an tỉnh Thái Bình kết hợp cùng cùng Công an thành phố Thái Bình và phòng Phòng chống tội phạm ma túy, Bộ tư lệnh Cảnh sát biển Việt Nam phát hiện bắt quả tang Phạm Thị L có hành vi cất giấu trái phép 6,1716 gam ma túy, loại hêrôin, mục đích để bán kiếm lời.
Như vậy hành vi của bị cáo đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy quy định:“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm: a)...i) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam;… 5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.” Vì vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự, như vậy cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Đánh giá tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của nhà nước ta, gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội. Bị cáo đã biết rõ việc mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng không chịu rèn luyện bản thân vẫn thực hiện với lỗi cố ý, thể hiện sự coi thường pháp luật.
Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo thì thấy: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy đinh tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự nhưng có nhân thân xấu đã 02 lần bị đưa ra xét xử tuy đã được xóa án tích nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà lại tiếp tục phạm tội. Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, bố mẹ đẻ bị cáo được nhà nước tặng thưởng Huân, Huy chương kháng chiến theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo bán ma túy với mục đích kiếm lời nên cần áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự để phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Đối với số ma túy đã thu của bị cáo là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy; Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh đen đã cũ không sử dụng vào việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
Về nguồn gốc số ma túy: bị cáo khai mua của một người nam giới ở khu vực cầu Đổ, phường Quang Trung, thành phố Thái Bình nhưng bị cáo không biết tên, địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Bình không có đủ căn cứ để điều tra, xử lý.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm i khoản 2, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 47, Điều 50 Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Thị L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Thị L 07 (bảy) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 31/5/2022. Về hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) để sung ngân sách nhà nước.
3. Về xử lý vật chứng:
3.1. Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 188/KL-KTHS(MT) của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thái Bình.
3.2. Trả lại cho bị cáo Phạm Thị L 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh đen đã cũ.
(Vật chứng có đặc điểm như trong Biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố Thái Bình và Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình ngày 05/10/2022).
4. Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Phạm Thị L được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 28/10/2022.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình; - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình; - Cơ quan Thi hành án hình sự Công an thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình; - CQCSĐT Công an thành phố Thái Bình; - Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hƣơng |