vanban.org

Bản án 150/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 29/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Kiều N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Nguyễn Thị Kiều N: 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 18/8/2022. Về biện pháp tƣ pháp: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu huỷ gồm: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án HS về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Kiều N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số: 150/2022/HS-ST
Ngày: 29/12/2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC - TỈNH KIÊN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Thoa

Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Dƣơng Tấn Đấu

2. Bà Phạm Thanh Nghĩa

- Thư ký phiên tòa: Ông Lƣơng Quang Thanh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc tham gia phiên tòa: Ông Lê Hữu Nghị - Kiểm sát viên.

Trong ngày 29 tháng 12 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 133/2022/TLST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 141/2022/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Thị Kiều N, sinh ngày 30/06/2004 – Giới tính: Nữ

Nơi sinh: Tân Hiệp, Kiên Giang

Nơi ĐKTT: Ấp T, xã T, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang.

Chỗ ở: Khu phố 12, phường D, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 3/12;

Quốc tịch: Việt Nam;

Dân tộc: Kinh;

Tôn giáo: Không;

Con ông: Nguyễn Tấn Đ; và bà Nguyễn Thị N;

Chị em ruột có 02 người (lớn nhất sinh năm 1998, nhỏ nhất sinh năm 2002);

Tiền án, tiền sự: Không;

Chồng: Không

Con: 01 người, tên Nguyễn Trung H, sinh ngày 20/6/2018, chưa làm giấy khai sinh.

Tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/8/2022

Bị cáo có mặt tại phiên toà.

Luật sƣ: Dương Minh B – Đoàn luật sư tỉnh Kiên Giang, được Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Kiên Giang cử tham gia tố tụng bào chữa cho bị cáo do thuộc hộ nghèo.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Về hành vi phạm tội của bị cáo

Khoảng 02 giờ ngày 17/8/2022, N đi đến quán Karaoke 99 – Nhà nghỉ Phát Tài thuộc ấp Cây Thông Ngoài, xã Cửa Dương, thành phố Phú Quốc để phục vụ cho khách hát Karaoke tại phòng số 6, tại đây N được người thanh niên tên T và người phụ nữ tên T (chưa rõ nhân thân) cho sử dụng ma túy và cho N 03 bịch ma túy và 02 phần viên nén ma túy, N đem cất giấu số ma túy trong túi xách của N để sử dụng. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, do có khách gọi đến phòng số 209 nhà nghỉ Phát Tài phục vụ cho khách hát Karaoke và sử dụng ma tuý, N mang theo túi xách bên trong có chứa ma tuý. Tại đây N được một thanh niên (chưa rõ nhân thân) cho sử dụng ma túy. Đến khoảng 00 giờ 30 phút ngày 18/8/2022, tất cả bỏ về, còn lại N ở trong phòng, thì bị Công an thành phố Phú Quốc kiểm tra phòng số 209 phát hiện N cất giấu số ma túy bên trong túi xách của N để sử dụng nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Ngày 26/8/2022, Nguyễn Thị Kiều N bị Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Phú Quốc khởi tố, tạm giam để điều tra.

Thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu:

- 02 bịch nylon màu trắng, có rãnh gài viền màu xanh, kích thước lần lượt 03 x 04 cm và 04 x 04 cm, bên trong các bịch nylon có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng không đồng nhất, đã được niêm phong.

- 01 bịch nylon màu trắng, có rãnh gài viền màu xanh, kích thước 04 x 04 cm bên trong có chứa 01 phần viên nén màu tím không rõ hình dạng và 01 phần viên nén màu xanh, cam không rõ hình dạng, đã được niêm phong.

- 01 bịch nylon màu trắng, có rãnh gài viền màu xanh, kích thước 04 x 04 cm, bên trong có chứa các chất bột màu cam, đã được niêm phong.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu đen, số IMEI: 357271094035157, máy đã qua sử dụng.

Kết luận giám định:

Tại kết luận giám định số 814/KL-KTHS ngày 26/8/2022 của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Kiên Giang, kết luận:

- Các hạt tinh thể rắn, màu trắng, không đồng nhất chứa trong 02 (hai) bịch nylon được niêm phong gửi đi giám định là chất ma túy, loại Ketamine, có khối lượng 1,9213 gam.

- 01 (một) phần viên nén màu tím, không rõ hình dạng chứa trong 01 (một) bịch nylon được niêm phong gửi đi giám định là chất ma túy, loại MDMA, có khối lượng là 0,2259 gam.

- 01 (một) phần viên nén màu xanh cam, không rõ hình dạng chứa trong 01 (một) bịch nylon được niêm phong gửi đi giám định là chất ma túy, loại MDMA, có khối lượng là 0,2150 gam.

- Chất bột màu xanh, chứa trong 01 (một) bịch nylon được niêm phong gửi đi giám định là chất ma túy, loại MDMA, có khối lượng là 0,9681 gam.

MDMA là chất ma túy nằm trong danh mục I, STT 27, Nghị định 73/2018/NĐ-CP, ngày 15/5/2018.

Ketamine là chất ma túy nằm trong danh mục III, STT 35, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018.

Căn cứ khoản 1 Điều 5 Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ về tính tỷ lệ phần trăm tổng khối lượng của 02 chất ma túy là 37,78%.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định số 814/KL-KTHS ngày 26/8/2022 của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Kiên Giang.

Tại bản cáo trạng số: 140/CT-VKSPQ ngày 28 tháng 11 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc truy tố bị cáo Nguyễn Thị Kiều N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Thị Kiều N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS xử phạt Nguyễn Thị Kiều N từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Về biện pháp tƣ pháp: Đề nghị HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy:

+ Các hạt tinh thể màu trắng còn lại sau giám định có khối lượng là 1,8430 gam (gồm bịch nylon + mẫu);

+ Chất bột màu tím còn lại sau giám định có khối lượng là 0,1552 gam đựng trong 01 bịch ny lon.

+ Chất bột màu xanh cam còn lại sau giám định có khối lượng là 0,1629 gam đựng trong 01 bịch ny lon.

+ Chất bột không xác định màu còn lại sau giám định có khối lượng là 0,8648 gam đựng trong 01 bịch ny lon.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu đen, số IMEI: 357271094035157, máy đã qua sử dụng đã trao trả chủ sở hữu trong quá trình điều tra nên không xem xét.

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử kiến nghị các cơ quan chức năng về việc bị cáo có con khi ở tuổi vị thành niên, cần xem xét trách nhiệm của người đã gây ra hậu quả này.

Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì đối với bản cáo trạng và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã công bố và không tranh luận gì đối với quan điểm luận tội của Kiểm sát viên.

Tại phiên toà Luật sư Dương Minh Biên thống nhất việc truy tố bị cáo về tội “tàng trữ trái phép chất ma tuý”, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ dưới mức thấp nhất mà Viện kiểm sát đề nghị lý do bị cáo thuộc hộ nghèo, bản thân bị cáo có con còn nhỏ, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử kiến nghị các cơ quan chức năng về việc bị cáo có con khi ở tuổi vị thành niên, cần xem xét trách nhiệm của người đã gây ra hậu quả này.

Lời nói sau cùng của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Phú Quốc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thị Kiều N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc truy tố.

Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, tang vật thu giữ được trong vụ án, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, tang vật là ma tuý mà bị cáo N đang cất giữ để sử dụng.

Từ đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định, do có nhu cầu sử dụng ma tuý nên ngày 17/8/2022, khi được 02 người tên T và T cho sử dụng ma túy và sau đó cho bị cáo 03 bịch ma túy và 02 phần viên nén ma túy, N đã đem cất giấu số ma túy đó trong túi xách của N để sử dụng. Đến khoảng 00 giờ 30 phút ngày 18/8/2022, khi N đang ở trong phòng 209 quán Karaoke 99 (nhà nghỉ Phát Tài), thì bị Công an thành phố Phú Quốc kiểm tra phát hiện N cất giấu số ma túy bên trong túi xách của N để sử dụng nên lập biên bản bắt quả tang. Qua giám định 02 chất ma tuý N tàng trữ là chất MDMA có tổng khối lượng 1,4219 gam và chất Ketamine có khối lượng 1,9213gam, tỷ lệ phần trăm tổng khối lượng của 02 chất ma tuý là 37,78%, đây là 02 loại ma tuý nằm trong danh mục Nhà nước cấm lưu hành.

Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Thị Kiều N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật và có mức án từ 01 năm đến 05 năm tù.

. Về tính chất mức độ hành vi phạm tội: Vào thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đầy đủ khả năng nhận thức hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy. Nhưng để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma tuý của bản thân bị cáo đã bất chấp pháp luật cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo nhận thức được ma túy là chất gây nghiện, gây ảnh hưởng đến sức khỏe và tính mạng con người, gây ảnh hưởng đến tình hình trật tự tại địa phương, là nguyên nhân dẫn đến những tệ nạn xã hội và các loại tội phạm nguy hiểm khác. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm, nên cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục bị cáo trở thành người tốt, đồng thời phòng ngừa chung cho xã hội đối với loại tội phạm này.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa và quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, về nhân thân bị cáo thuộc hộ nghèo có xác nhận của chính quyền địa phương. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà bị cáo khai bị cáo có một người con trai tên Nguyễn Trung H, sinh ngày 20/6/2018, hiện nay bé H chưa được làm giấy khai sinh, đây là con ruột bị cáo, xét thấy bị cáo sinh ngày 30/6/2004, có con sinh ngày 20/6/2018 như vậy khi bị cáo sinh con mới 14 tuổi và khi mang thai là khoảng hơn 13 tuổi. Nên Hội đồng xét xử kiến nghị các cơ quan chức năng xem xét đối với người đã gây ra hậu quả cho bị cáo, nếu có căn cứ thì giải quyết theo quy định của pháp luật.

. Về biện pháp tư pháp: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xét thấy tang vật là chất ma tuý là vật cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy gồm:

+ Các hạt tinh thể màu trắng còn lại sau giám định có khối lượng là 1,8430 gam (gồm bịch nylon + mẫu);

+ Chất bột màu tím còn lại sau giám định có khối lượng là 0,1552 gam đựng trong 01 bịch ny lon.

+ Chất bột màu xanh cam còn lại sau giám định có khối lượng là 0,1629 gam đựng trong 01 bịch ny lon.

+ Chất bột không xác định màu còn lại sau giám định có khối lượng là 0,8648 gam đựng trong 01 bịch ny lon.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu đen, số IMEI: 357271094035157, máy đã qua sử dụng đã trao trả chủ sở hữu trong quá trình điều tra nên không xem xét.

. Về quan điểm của Viện kiểm sát: Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc đề nghị về tội danh, mức hình phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, biện pháp tư pháp đối với bị cáo là có căn cứ, Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

. Đối với người tên T và T, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục làm rõ, khi nào bắt được xử lý sau.

. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ pháp luật: Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Kiều N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt

Nguyễn Thị Kiều N: 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 18/8/2022.

2. Về biện pháp tƣ pháp: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu huỷ gồm:

+ Các hạt tinh thể màu trắng còn lại sau giám định có khối lượng là 1,8430 gam (gồm bịch nylon + mẫu);

+ Chất bột màu tím còn lại sau giám định có khối lượng là 0,1552 gam đựng trong 01 bịch ny lon.

+ Chất bột màu xanh cam còn lại sau giám định có khối lượng là 0,1629 gam đựng trong 01 bịch ny lon.

+ Chất bột không xác định màu còn lại sau giám định có khối lượng là 0,8648 gam đựng trong 01 bịch ny lon.

(Tang vật trên đã được chuyển giao cho Chi cục thi hành án Dân sự thành phố Phú Quốc theo quyết định chuyển vật chứng số: 112/QĐ-VKSPQ ngày 28/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc).

3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ