- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tô Vũ Ngọc Văn - Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng - phạm tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Tô Vũ Ngọc V (Tên gọi khác: V xì tin) 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Z TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 150/2021/HS-ST Ngày 28 tháng 6 năm 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Z, TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hạng Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mai Văn Thuận
Ông Nguyễn Văn Bạn
- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Thư – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Z
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Z tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bảo Châu - Kiểm sát viên
Ngày 28 tháng 6 năm 2021 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Z mở phiên tòa công khai, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 166/2021/HS-ST ngày 17 tháng 5 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 164/2021/QĐXXST - HS ngày 09 tháng 6 năm 2021 đối với bị cáo:
Tô Vũ Ngọc V (Tên gọi khác: V xì tin), sinh năm 1977, tại Z, Khánh Hòa; Nơi ĐKNKTT: 127 Trần Nguyên H , phường T L, thành phố Z. Chỗ ở hiện nay: 32E Hùng Lộc H , thôn H N 2, xã VN , thành phố Z. Nghề nghiệp: Thợ mỹ nghệ. Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Tô Ngọc C và bà Vũ Thị P ; Có vợ Trần Nguyễn Thị Khánh L (Đã ly hôn) và Đỗ Thị Trúc C (Đã ly hôn), có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2014 và nhỏ nhất sinh năm 2019; Tiền sự, Tiền án: không. Nhân thân:
- Bản án số 532/1996/HSST ngày 10 ngày 12 năm 1996 của Tòa án nhân dân quận BT , thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 tháng 21 ngày tù về tội: “Trộm cắp tài sản”. (Được trả tự do tại phiên tòa và đã chấp hành xong án phí của bản án).
- Bản án số 112/2003/HSST ngày 19 tháng 6 năm 2003 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xử phạt 08 năm tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. ( Đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 20 tháng 7 năm 2009 và đã chấp hành án phí của bản án).
- Ngày 17 tháng 6 năm 2020 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an tỉnh Khánh Hòa khởi tố về hành vi: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Hiện đang bị tạm giam trong vụ án khác. Bị cáo có mặt.
*Người làm chứng:
1. Ông Nguyễn Văn D; Nơi cư trú: Thôn Hòn Nghê 2, xã VN, thành phố Z.
2. Ông Tô Vũ Ngọc Quang; Nơi cư trú: Thôn Phú Vinh, xã VT, thành phố Z.
(Tất cả người làm chứng đều vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 10 tháng 6 năm 2020, Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an tỉnh Khánh Hòa tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Tô Vũ Ngọc V tại số nhà 32E Hùng Lộc Hầu, thôn HN 2, xã VN, thành phố Z về hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Quá trình khám xét phát hiện và thu giữ nhiều đồ vật và tài liệu, trong đó có 02 (Hai) viên đạn kim loại gồm: 01 (Một) viên đạn kim loại dài khoảng 10cm, 01 (Một) viên đạn kim loại dài khoảng 2,5cm.
Ngày 15 tháng 6 năm 2020, Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Khánh Hòa có kết luận giám định số 384/GĐTP/2020, kết luận: 01 (Một) viên đạn (ký hiệu “bxn-1-53”) là đạn quân dụng cỡ (7,62 x 25)mm; 01 (Một) viên đạn (ký hiệu “41-66”) là đạn quân dụng cỡ (12,7 x 108)mm.
Quá trình điều tra, Tô Vũ Ngọc V khai nhận 02 (Hai) viên đạn trên là của mình, được một người làm thuê tên S nhặt về đem đưa cho V , vì sợ nguy hiểm cho con nhỏ nên V cất giấu ở két sắt phòng ngủ của mình. Đồng thời, V cũng không trình bày được nhân thân, lai lịch mối quan hệ cụ thể với người tên “S ”.
Cáo trạng số 39/CT-VKSKH – P1 ngày 12 tháng 5 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa truy tố Tô Vũ Ngọc V về tội: “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” được quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Z giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Lời khai nhận của bị cáo Tô Vũ Ngọc V tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và đã được Hội đồng xét xử thẩm vấn công khai. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt: bị cáo Tô Vũ Ngọc V từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù. Vật chứng vụ án, án phí đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét xử vụ án theo thủ tục chung.
Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, thực hành quyền công tố tại phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên cũng như của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên và của các cơ quan tố tụng đã thực hiện là hợp pháp, đúng quy định.
Tại phiên tòa, bị cáo Tô Vũ Ngọc V khai nhận toàn bộ hành vi mà bị cáo đã thực hiện. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và lời khai của người làm chứng cùng các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Vào lúc 15 giờ 20 phút, ngày 10 tháng 6 năm 2020 Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an tỉnh Khánh Hòa tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Tô Vũ Ngọc V tại số 32E Hùng Lộc Hầu, thôn HN 2, xã VN , thành phố Z phát hiện Tô Vũ Ngọc V cất giấu 01 (Một) viên đạn (ký hiệu “bxn-1-53”) là đạn quân dụng cỡ (7,62 x 25) mm và 01 (Một) viên đạn (ký hiệu “41-66”) là đạn quân dụng cỡ (12,7 x 108)mm trong két sắt tại phòng ngủ của V . Nguồn gốc số đạn quân dụng nêu trên V khai của một đối tượng làm thuê cho V tên S nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch. Hành vi cất giấu 02 (Hai) viên đạn quân dụng của Tô Vũ Ngọc V đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã truy tố bị cáo Tô Vũ Ngọc V về tội: “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Đối với người đàn ông tên S (chưa xác định được nhân thân, lai lịch), Cơ quan an ninh điều tra - Công an tỉnh Khánh Hòa đang điều tra làm rõ, nếu có căn cứ xẽ xử lý sau.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ quản lý vũ khí quân dụng của Nhà nước, hành vi phạm tội của bị cáo tiềm ẩn nguy cơ, điều kiện thuận lợi phát sinh các hành vi phạm tội khác; Gây mất ổn định về trật tự an toàn xã hội, xâm hại đến an ninh quốc gia. Tuy nhiên, quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Xét vai trò tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo có nhân thân xấu, đã có thời gian cải tạo nhưng không lấy đó làm bài học tự tu dưỡng rèn luyện cho bản thân và hiện nay đang bị điều tra xử lý về hành vi phạm tội khác. Do đó, cần phải xử lý nghiêm khắc, áp dụng hình phạt tù có thời hạn mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội.
Về vật chứng vụ án: Cơ quan an ninh điều tra – Công an tỉnh Khánh Hòa đã thu giữ: 01 (Một) viên đạn (ký hiệu “bxn-1-53”) là đạn quân dụng cỡ (7,62 x 25)mm và 01 (Một) viên đạn (ký hiệu “41-66”) là đạn quân dụng cỡ (12,7 x 108)mm là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên giao cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Khánh Hòa tịch thu, tiêu hủy theo quy định của pháp luật. (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22 tháng 9 năm 2021 giữa Cơ quan An ninh điều tra - Công an tỉnh Khánh Hòa và Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an tỉnh Khánh Hòa).
Về án phí: Bị cáo Tô Vũ Ngọc V phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Tô Vũ Ngọc V .
Xử phạt: Bị cáo Tô Vũ Ngọc V (Tên gọi khác: V xì tin) 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Giao Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Khánh Hòa tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) viên đạn (ký hiệu “bxn-1-53”) là đạn quân dụng cỡ (7,62 x 25) mm và 01 (Một) viên đạn (ký hiệu “41-66”) là đạn quân dụng cỡ (12,7 x 108)mm. (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22 tháng 9 năm 2021 giữa Cơ quan An ninh điều tra - Công an tỉnh Khánh Hòa và Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an tỉnh Khánh Hòa).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Tô Vũ Ngọc V phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Bị cáo. - Đương sự; - TAND, VKSND tỉnh Khánh Hòa; - Sở tư pháp Khánh Hòa; - VKSND thành phố Z; - Công an TP. Z; - Thi hành án dân sự Z; -Lưu: Án văn + Hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA LÊ THỊ HẠNG |