vanban.org

Bản án 150/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1- Xử ly hôn giữa chị Nguyễn Thị A và anh Vũ Đức H.

2- Về con chung: Giao cháu Vũ Thị Nguyệt Nh sinh ngày 20/6/2020 cho chị Nguyễn Thị A trực tiếp nuôi dưỡng (hiện cháu Vũ Thị Nguyệt Nh đang do chị Nguyễn Thị A chăm sóc, nuôi dưỡng). Anh Vũ Đức H không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Nguyễn Thị A đối với cháu Vũ Thị Nguyệt Nh. Không ai được ng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Ánh xin ly hôn anh Hiệp"
  • Tòa quyết gì? 1- Xử ly hôn giữa chị Nguyễn Thị A và anh Vũ Đức H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N, TỈNH N

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

. Bản án số: 150/2021/HNGĐ-ST
Ngày 22 - 9 - 2021
V/v chị A xin ly hôn anh H

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH N

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Xuân Dũng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Dương Thị Vui

2. Ông Đàm Văn Kiều

- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Tuấn Tú - Thư ký Toà án nhân dân huyện N, tỉnh N.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh N tham gia phiên tòa: Ông Trần Thế Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện N mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 129/2021/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 7 năm 2021. Về tranh chấp xin ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 8 năm 2021, Quyết định hoãn phiên tòa số: 31/2021/QĐST-HNGĐ ngày 31 tháng 8 năm 2021, giữa các đương sự:

+ Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị A - Sinh năm 1999 Địa chỉ: Đội 1 Nam Hải, xã N, huyện N, tỉnh N.

+ Bị đơn: Anh Vũ Đức H - Sinh năm 1999 Địa chỉ: Đội 1 Nam Hải, xã N, huyện N, tỉnh N.

Tại phiên tòa vắng mặt chị A và anh H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện lập ngày 05/7/2021 cũng như lời khai của chị Nguyễn Thị A trong quá trình giải quyết trình bày: Chị kết hôn với anh Vũ Đức H vào tháng 12/2019 trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện N, tỉnh N. Sau khi kết hôn chị và anh H chung sống hoà thuận được thời gian ngắn thì mâu thuẫn vợ chồng phát sinh, nguyên nhân là do hai bên bất đồng về quan điểm sống, anh H chơi bời không quan tâm đến gia đình. Hai bên gia đình đã Nhều lần khuyên giải nhưng anh H không thay đổi nên quan hệ tình cảm vợ chồng giữa chị và anh H không được cải thiện. Từ tháng 01/2021 đến nay chị và anh H sống ly thân nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh H không còn nên chị xin được ly hôn anh Vũ Đức H. Về con chung giữa chị và anh Vũ Đức H có một con chung là Vũ Thị Nguyệt Nh sinh ngày 20/6/2020, hiện đang do chị nuôi dưỡng. Nay chị xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nh và không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị. Về tài sản chung giữa chị và anh Vũ Đức H không có nên chị không yêu cầu giải quyết gì về tài sản. Về án phí chị đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật. Do điều kiện công việc bận, chị không tham gia phiên tòa được nên chị đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt chị.

Tại phiên tòa hôm nay anh Vũ Đức H vắng mặt nhưng anh H có lời khai trong quá trình giải quyết trình bày đúng như lời khai của chị Nguyễn Thị A về quá trình kết hôn và sống chung giữa anh và chị A. Sau khi kết hôn anh và chị A chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2021 thì mâu thuẫn vợ chồng phát sinh, nguyên nhân là do hai bên bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung trong hôn nhân. Từ tháng 5/2021 đến nay anh và chị A sống ly thân nhau. Nay chị A xin ly hôn anh thì anh không nhất chí vì anh là gia đình công giáo và con chung còn nhỏ. Về con chung giữa anh và chị Nguyễn Thị A có một con chung là Vũ Thị Nguyệt Nh sinh ngày 20/6/2020, hiện đang do chị A nuôi dưỡng. Nếu chị A nhất quyết xin ly hôn anh thì anh nhất trí để chị A nuôi dưỡng cháu Nh và anh không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị A. Về tài sản chung giữa anh và chị Nguyễn Thị A không có nên anh không có yêu cầu giải quyết. Do điều kiện công việc bận, anh không tham gia phiên tòa được nên anh đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt anh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N tham gia phiên toà phát biểu ý kiến: Về tố tụng, qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến xét xử tại phiên toà hôm nay Thẩm phán thụ lý giải quyết cũng như Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 56; 81; 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 6; 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: xử ly hôn giữa chị Nguyễn Thị A và anh Vũ Đức H. Về con chung: Giao cháu Vũ Thị Nguyệt Nh sinh ngày 20/6/2020 cho chị A trực tiếp nuôi dưỡng, anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị A. Đề nghị tuyên án phí dân sự sơ thẩm chị A phải nộp theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào lời trình bày của đương sự và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị A và anh Vũ Đức H đều cư trú tại xã N, huyện N, tỉnh N. Nay chị A xin ly hôn anh H và Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng thụ lý giải quyết vụ án là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tại phiên tòa chị Nguyễn Thị A và anh Vũ Đức H vắng mặt nhưng chị A và anh H đã có đơn xin xét xử vắng mặt, vì vậy Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng tiến hành xét xử vắng mặt chị A và anh H là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về nội dung: Cuộc hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị A và anh Vũ Đức H được tổ chức kết hôn vào tháng 12/2019, trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã N, là một hôn nhân tự do, tiến bộ và có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn, chị A và anh H chung sống hòa thuận, hạnh phúc được một thời gian thì mâu thuẫn vợ chồng phát sinh, nguyên nhân là do hai bên không hợp tính nhau. Hai bên gia đình đã Nhều lần khuyên giải nhưng quan hệ tình cảm vợ chồng giữa chị A và anh H không được cải thiện. Từ tháng 01/2021 đến nay chị A và anh H sống ly thân nhau. Trên thực tế mâu thuẫn vợ chồng giữa chị A và anh H đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, hôn nhân đã tan vỡ, nay chị A xin ly hôn anh H nên chấp nhận là phù hợp. Phía anh H không nhất trí ly hôn với lý do anh là gia đình công giáo và vì con chung còn nhỏ, thấy không có căn cứ nên yêu cầu của anh H không được chấp nhận.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị A và anh Vũ Đức H có một con chung là Vũ Thị Nguyệt Nh sinh ngày 20/6/2020, hiện đang do chị A nuôi dưỡng. Nay chị A xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nh và không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị A và phía anh H cũng nhất trí nên chấp nhận là phù hợp.

Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị A và anh Vũ Đức H đều khai không có và không yêu cầu giải quyết về tài sản nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm, chị Nguyễn Thị A phải nộp theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Thấy đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện N về việc giải quyết vụ án là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 56; 81; 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ các Điều 147; 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Căn cứ các Điều 6; 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1- Xử ly hôn giữa chị Nguyễn Thị A và anh Vũ Đức H.

2- Về con chung: Giao cháu Vũ Thị Nguyệt Nh sinh ngày 20/6/2020 cho chị Nguyễn Thị A trực tiếp nuôi dưỡng (hiện cháu Vũ Thị Nguyệt Nh đang do chị Nguyễn Thị A chăm sóc, nuôi dưỡng). Anh Vũ Đức H không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Nguyễn Thị A đối với cháu Vũ Thị Nguyệt Nh. Không ai được ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung.

3- Án phí dân sự sơ thẩm, chị Nguyễn Thị A phải nộp 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm chị Nguyễn Thị A đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số: AA/2019/0004255 ngày 22/7/2021 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện N. Chị Nguyễn Thị A đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt chị A và anh H. Báo cho các bên đương sự biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ