vanban.org

Bản án 150/2020/HSST — Hình sự

TAND Q. Bình Thạnh, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 03/12/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lâm Đ phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Xử phạt bị cáo Lâm Đ 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/7/2020. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Lâm Đ phạm tội “Tiêu Thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 BLHS năm 2015 - phạm tội chứa chấp hoặc tiêu thụ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lâm Đ phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
  • Căn cứ chính? Điều 323 Bộ luật Hình sự; Luật Phí và lệ phí; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BÌNH THẠNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 150/2020/HSST
Ngày: 03-12-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Tuấn Anh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Hồ Thị Lang

Nghề nghiệp: Cán bộ hưu trí quận Bình Thạnh.

2/ Ông Trần Hưng

Nghề nghiệp: Chuyên viên Phòng Kinh tế quận Bình Thạnh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Hòa – Thư ký Tòa án nhân dân Quận Bình Thạnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận Bình Thạnh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Cẩm Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 12 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Bình Thạnh tiến hành xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 123/2020/HSST ngày 22/10/2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 191/QĐXX ngày 20/11/2020 đối với bị cáo:

Lâm Đ; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1993; Tại: Sóc Trăng; Nơi đăng ký HKTT: Ấp B, xã V, huyện Đ, tỉnh Sóc Trăng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Khơme; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Không; Họ tên cha: L; Họ tên mẹ: H; Anh, chị, em: 02 người, bị can là con thứ nhất trong gia đình; Vợ: R; Con: có 02 con, lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 26/7/2011, bị Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng xử phạt 01 năm 06 tháng tù giam về hành vi “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo bản án số 13/2011/HSST. Đã chấp hành xong hình phạt tù và đã đóng án phí.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày: 08/7/2020 (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông H (vắng mặt)

Thường trú: Ấp L, xã B, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu;

Tạm trú: Số D, đường C, phường T, quận M, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Ông T (vắng mặt)

Địa chỉ: Số Y, phường L, quận M, Thành phố Hồ Chí Minh

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 21 giờ ngày 21/8/2019, anh H đi xe mô tô hiệu Honda SH125, biển số 59U1-461.75 về nhà thuê tại địa chỉ Số D, đường C, phường T, quận M, Thành phố Hồ Chí Minh, anh H để xe ở tầng trệt rồi lên phòng ngủ. Đến 11 giờ ngày 22/8/2019, anh H xuống lấy xe đi làm thì phát hiện xe bị mất trộm nên đến Công an phường Nguyễn Cư Trinh trình báo.

Ngày 10/9/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 7 đã khởi tố bị can và ra lệnh tạm giam đối với 02 bị can: T và P về hành vi trộm cắp tài sản. Quá trình điều tra, T và P khai nhận ngoài vụ trộm tại Quận 7, T và P còn thực hiện vụ trộm cắp xe mô tô hiệu Honda SH125, biển số 59U1-461.75 tại địa chỉ Số D, đường C, phường T, quận M, Thành phố Hồ Chí Minh của anh H vào ngày 22/8/2019. Sau khi lấy trộm được tài sản T liên lạc với Lâm Đ và hẹn gặp nhau tại trước số A Quốc Lộ B, phường H, quận B thỏa thuận bán chiếc xe trên cho Đại với giá là 18.000.000 đồng.

Tại cơ quan điều tra, Lâm Đ khai nhận: Vào khoảng 9 giờ ngày 22/8/2019, Đ đang ở nhà thuê ở Bình Dương thì nhận được tin nhắn trên mạng xã hội từ T là có 01 chiếc xe gắn máy hiệu Honda SH cần bán với giá 18.000.000 đồng, Đ đồng ý mua và hẹn gặp T để mua chiếc xe trên tại trước số A Quốc Lộ M, phường H, quận B. Đ ra đến điểm hẹn thì thấy T sử dụng chiếc xe gắn máy Honda SH125, biển số 59U1-461.75. Khi xem xe máy trên Đ thấy xe bật đèn nhưng không có chìa khóa, không có giấy tờ nên Đ có hỏi T về nguồn gốc chiếc xe và được biết chiếc xe trên do T trộm cắp bên Quận M, Đ vẫn đồng ý mua với giá 18.000.000 đồng. Sau đó, Đ đã bán chiếc xe trên cho một người quen trên mạng xã hội tên “A” (không rõ lai lịch) với giá 20.000.000 đồng và hẹn giao dịch ở khu vực S, Quận C. Đ thu lợi được 2.000.000 đồng.

Tại Kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Bình Thạnh số: 146 ngày 16 tháng 9 năm 2020 kết luận: 01 xe mô tô Honda SH125, biển số 59U1-461.75 có giá trị là 66.500.000 đồng

Về vật chứng: 01 xe mô tô Honda SH125, biển số 59U1-461.75 không thu hồi được

Tại bản cáo trạng số 123/CTr-VKS ngày 21/10/2020 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh đã truy tố bị cáo Lâm Đ về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà:

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh thực hiện quyền công tố tại phiên toà vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, trình bày lời luận tội, đánh giá tính chất, mức độ và hậu quả nguy hiểm cho xã hội cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị:

- Tuyên bố bị cáo Lâm Đ phạm tội “Tiêu Thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, áp dụng khoản 1 Điều 323, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Buộc bị cáo nộp lại 2.000.000 đồng tiền thu lợi bất chính để sung vào Ngân sách nhà nước.

* Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu và không có ý kiến gì tranh luận với phần luận tội của đại diện Viện kiểm sát, lời nói sau cùng bị cáo đã nhận thức việc làm của mình là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Bình Thạnh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

. Tại cơ quan điều tra cũng như qua thẩm tra xét hỏi trước phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và đúng như hành vi phạm tội mà Viện kiểm sát truy tố bị cáo ra trước tòa, cho thấy: Vào khoảng 09 giờ ngày 22/8/2019, bị cáo Lâm Đ biết rõ xe mô tô Honda SH125, biển số 59U1-461.75 là tài sản do T trộm cắp mà có nhưng vẫn có hành vi mua chiếc xe này với giá 18.000.000 đồng và bán lại với giá 20.000.000 đồng để hưởng lợi 2.000.000 đồng. Theo Kết luận định giá tài sản số 146 định giá xe mô tô Honda SH125, biển số 59U1-461.75 có giá trị 66.500.000 đồng. Với hành vi nêu trên, có đủ cơ sở kết luận bị cáo đã phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 nên cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố bị cáo là hoàn toàn có căn cứ đúng pháp luật.

. Về tính chất, mức độ, động cơ, mục đích phạm tội và nhân thân của bị cáo: Bị cáo là người đã trưởng thành, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, hành vi phạm tội của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, đã cố ý trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng được nhà nước bảo vệ, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Bị cáo đủ khả năng nhận thức hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật nhưng vì lòng tham cá nhân để đáp ứng nhu cầu của bản thân bị cáo đã cố ý phạm tội. Ngoài ra, bị cáo có nhân thân xấu đã bị Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng xử phạt 01 năm 06 tháng tù giam về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo bản án số 13/2011/HSST mặc dù bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù và đã được xóa án tích, nhưng bị cáo không lấy đây làm bài học để sửa chữa bản thân lại tiếp tục phạm tội thể hiện bản chất coi thường pháp luật. Vì vậy, cần phải có một hình phạt thật nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo mới có tác dụng giáo dục, răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét thấy bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt theo quy định.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Do tại thời điểm phạm tội bị cáo không có việc làm và không có thu nhập nên Hội đồng xét xử không áp dụng khoản 5 Điều 323 Bộ luật hình sự để xử phạt tiền đối với bị cáo.

. Về xử lý vật chứng: 01 xe mô tô Honda SH125, biển số 59U1-461.75 không thu hồi được.

. Về tiền thu lợi bất chính: Đối với số tiền 2.000.000 đồng do bị cáo bán xe phạm tội mà có, đây là khoản tiền thu lợi bất chính nên cần buộc bị cáo nộp lại để tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Lâm Đ phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Áp dụng khoản 1 Điều 323, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Lâm Đ 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/7/2020.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015.

Buộc bị cáo phải nộp số tiền 2.000.000 đồng để sung vào ngân sách nhà nước

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBNTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm, nộp tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng điều 331 và 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Cỡ chữ