- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cao Trường G - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Cao Trường G phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 150/2019/HS-ST Ngày: 22-10-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Xuân Thường
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Mai Trương Huy.
2. Bà Đỗ Thị Lê.
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Huyền-Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 145/2019/TLST-HS ngày 20/9/2019 đối với bị cáo:
Cao Trường G, sinh ngày 01-01-1989 tại tỉnh C. Hộ khẩu thường trú: Ấp M, xã M, huyện U, tỉnh K. Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Văn N (đã chết) và bà Nguyễn Hồng T. Bị cáo chưa có vợ, con.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 4/6/2019, tạm giam từ ngày 7/6/2019 tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Phú Mỹ (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Cao Trường G và M (chưa rõ nhân thân, lai lịch) đều là các đối tượng nghiện ma túy đá. Vào khoảng 20 giờ ngày 01/6/2019, G đưa 400.000 đồng cho M để mua ma túy về sử dụng. Khoảng 20 giờ 30, M cầm về 01 gói ma túy, sau đó cả hai lấy một ít ma túy ra sử dụng chung tại phòng trọ của G thuộc khu phố B, phường M, thị xã P, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Số ma túy còn lại G cất giấu trong túi quần để sử dụng dần. Đến khoảng 21 giờ ngày 04/6/2019, khi G đang đứng xem tai nạn ở khu vực ngã ba M thuộc khu phố B, phường M, thị xã P, thì lực lượng Công an tuần tra thấy có dấu hiệu nghi vấn nên yêu cầu kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện G có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nên đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Tang vật thu giữ gồm: 01 gói nylon hàn kín bên trong chứa chất kết tinh không màu, trong suốt; 01 điện thoại di động có dòng chữ Philips màu đen và số tiền 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng).
Tại bản kết luận giám định số 208/GĐMT-PC09 (Đ4) ngày 13 tháng 6 năm 2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu kết luận: Mẫu chất kết tinh không màu - trong suốt chứa trong 01 gói nylon hàn kín, được niêm phong trong một phong bì màu trắng, có hình dấu của Công an phường Mỹ Xuân - CATX Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, cùng các chữ ký ghi họ tên: Trung tá Hoàng Bá Hai, Trần Ngọc Tú, Cao Trường G, Nguyễn Bá Phát, Nguyễn Văn Dương, gửi đến giám định có khối lượng 0,3421gam, là chất ma túy, loại Methaphetamine.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 gói ma túy trong ví ở túi quần của G, 01 điện thoại di động có dòng chữ Philips, màu đen và số tiền 300.000 đồng.
Đối với đối tượng tên M, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Phú Mỹ tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào có kết quả sẽ xử lý sau.
Tại bản cáo trạng số 151/CT-VKS ngày 19/9/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đã truy tố Cao Trường G về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Cao Trường G về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo với mức án từ 18 tù đến 24 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định; trả lại bị cáo 01 chiếc điện thoại di động có dòng chữ Philips, màu đen và số tiền 300.000 đồng.
Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì về bản luận tội của Kiểm sát viên; Bị cáo nói lời sau cùng xin được Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Về tội danh và điều luật áp dụng: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, kết luận giám định cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Khoảng 21 giờ ngày 04 tháng 6 năm 2019, tại khu vực ngã ba M thuộc khu phố B, phường M, thị xã P, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, Cao Trường G đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,3421gam Methaphetamine, nhằm mục đích sử dụng thì bị bắt quả tang.
Do khối lượng ma túy (loại Methaphetamine) mà bị cáo tàng trữ là 0,3421gam nên thuộc trường hợp phạm tội theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015. Như vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy có đủ cơ sở để khẳng định cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu truy tố là có căn cứ và đúng pháp luật.
Về tính chất, mức độ hành vi của bị cáo: Hành vi của bị cáo rất nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy; xâm phạm trật tự an toàn xã hội và gây ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống. Vì vậy cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội, cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục riêng cũng như phòng ngừa tội phạm chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân:
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có tài sản nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Đối với đối tượng tên M đã đi mua và cùng sử dụng ma túy với bị cáo G: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Phú Mỹ tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào có kết quả sẽ xử lý sau.
Về xử lý vật chứng: Cần tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau khi giám định; trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động có dòng chữ Philips màu đen và số tiền 300.000 đồng do không liên quan đến việc phạm tội.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Cao Trường G phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Cao Trường G 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/6/2019.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau khi giám định được đựng trong 01 (một) phong bì niêm phong số đề số 208 ngày 13/6/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, trên phong bì có chữ ký, họ và tên của ông Lê Bá Hiền, Võ Thanh Hoài;
Trả lại cho bị cáo 01 (một) chiếc điện thoại di động có dòng chữ Philips, màu đen và số tiền 300.000 đồng.
(Toàn bộ vật chứng trên hiện Chi cục thi hành án thị xã Phú Mỹ đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/9/2019 giữa Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, buộc bị cáo Cao Trường G phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xét xử theo thủ tục phúc thẩm./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND thị xã Phú Mỹ; - Công an thị xã Phú Mỹ; - Chi cục THADS thị xã Phú Mỹ; - Công an tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (PV06); - TAND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; - VKSND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; - Sở Tư pháp tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; - Bị cáo; người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Bùi Xuân Thường |