- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi T S - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Trung S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂY HỒ THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 150/2019/HS-ST Ngày: 23-10-2019 |
nh©n danh
n íc céng hoµ x· héi chñ nghÜa viÖt nam
Toµ ¸n nh©n d©n quËn T©y Hå, Thµnh phè Hµ Néi
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Vân Anh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Văn Bách
Bà Lê Thanh Huyền
-Thư ký phiên tòa:Bà Đào Thị Thúy -Thư ký Tòa án nhân dân quận Tây Hồ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tây Hồ tham gia phiên toà:
Bà Nguyễn Thanh Hương-Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 10 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tây Hồ, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 163/2019/HSST ngày 01/10/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 162/2019/QĐXXST-HS ngày 02/10/2019, Quyết định hoãn phiên tòa số 34/2019/HSST-QĐ ngày 16/10/2019 đối với bị cáo:
Bùi Trung S, sinh năm 1993; Hộ khẩu thường trú: Xóm V T, xã D H, huyện K S, tỉnh H B; Chỗ ở: Lang thang; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Đức C (Bùi Đức C) và bà Lê Thị Minh H; Gia đình có hai anh em, bị cáo là con thứ nhất; Danh chỉ bản số 000000241 do Công an quận Tây Hồ lập ngày 29/5/2019; Tiền án tiền sự: Chưa. Bị bắt quả tang ngày 22/5/2019, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an Thành phố Hà Nội, có mặt tại phiên tòa.
Néi dung vô ¸N:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 03giờ ngày 22/5/2019, tổ công tác Công an phường T đang làm nhiệm vụ tại khu vực đường T, TH, HN phát hiện một người nam giới (xác định là anh Trần Duy B, sinh năm 1989; HKTT: Thôn B T, xã Q S, huyện L Th, V) điều khiển xe máy Yamaha, BKS: 88D1- chở theo một người nam giới (xác định là Bùi Trung S) dừng đỗ trước số nhà 162 đường T có biểu hiện nghi vấn nên đã yêu cầu kiểm tra hành chính. Khi dừng xe S đã thả một gói giấy màu trắng từ tay của S xuống phía chân thì bị tổ công tác phát hiện. Sau đó S đã nhặt gói giấy lên tự nguyện giao nộp cho tổ công tác và khai nhận bên trong gói giấy có chứa tinh thể màu trắng là ma túy do S nhặt được. Khám xét trong người S có 01 túi nilong chứa tinh thể màu trắng, S khai là ma túy S tàng trữ, mục đích để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập biên bản, đưa S cùng tang vật về trụ sở công an phường Thụy Khuê để giải quyết.
Vật chứng thu giữ của S gồm:
-01(một) gói giấy màu trắng bên trong có 01(một) túi nilong màu trắng chứa tinh thể màu trắng.
- 01(một) túi nilong màu trắng bên trong chứa tinh thể màu trắng.
-01(một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, đã qua sử dụng.
-01(một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, đã qua sử dụng.
- Số tiền 500.000đồng.
Thu giữ của anh Trần Duy B:
-01 (một) xe máy Yamaha, BKS: 88D1-.., đã qua sử dụng;
-01(một) điện thoại nhãn hiệu samsung màu vàng, đã qua sử dụng.
Tại Cơ quan điều tra (CQĐT) S khai: Khoảng 02 giờ ngày 22/5/2019 S đang ở khu vực Đ La Th, Đ Đ, HN, S dùng điện thoại lên mạng thông qua ứng dụng zalo có tài khoản tên Hoang Ngan đã nhắn tin với S, qua tin nhắn người này rủ S có ma túy đá thì đem đến 102 Thụy Khuê sử dụng cùng. Sau khi nhắn tin S đã đặt xe Grap thông qua ứng dụng đi đến 102 đường T để sử dụng ma túy. Trước khi đi S đã cầm ở tay 01 túi nilong chứa tinh thể màu trắng bên ngoài bọc giấy màu trắng và cất 01 túi nilong chứa tinh thể màu trắng trong túi quần S đang mặc. Sau khi bắt được xe S yêu cầu lái xe chở đến 102 đường T, khi đến khu vực trước số nhà 162 đường T thì bị phát hiện bắt giữ.
CQĐT đã lấy lời khai của anh Trần Duy B, anh B khai: Anh làm nghề lái xe ôm grap, khoảng 02 giờ sáng ngày 22/5/2019 qua ứng dụng Grap anh đã điều khiển xe máy Yamaha, BKS: 88D1- chở khách là Bùi Trung S đi từ số 325 ĐLT, Đ Đ, Hà Nội đến 102 T, TH, khi chở S anh không biết S có tàng trữ ma túy.
Tại Kết luận giám định số 3258/KLGĐ-PC09 ngày 31/5/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an Thành phố Hà Nội xác định:
-Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilong (thu dưới đất) là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 0,409gam.
-Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilong (thu giữ khi khám người) là ma túy loại Ketamine, khối lượng: 0,249gam.
Kiểm tra điện thoại thu giữ của S không có nội dung tin nhắn liên quan đến ma túy. Kiểm tra ứng dụng mạng zalo từ máy điện thoại của S có nội dung cuộc nói chuyện với tài khoản Hoang Ngân. Tài khoản zalo này S khai đây là lần đầu tiên S nói chuyện, S không biết họ tên, địa chỉ của người này. CQĐT đã xác minh nhưng không làm rõ được.
Đối với số ma túy thu giữ của S, S khai: Ngày 01/02/2019 và 10/3/2019 khi S làm nhân viên phục vụ tại quán karaoke ở số ,sau khi khách hát xong S dọn dẹp phòng thì nhặt được và đã tự cất giữ để sử dụng. Số ma túy trên là của khách đến quán hát để lại, còn của ai thì S không biết họ tên, địa chỉ của người đó. CQĐT không xác minh làm rõ được.
Đối với điện thoại di động và số tiền 500.000đồng thu giữ của S, S khai là tài sản của S.
Đối với: 01điện thoại nhãn hiệu samsung màu vàng, đã qua sử dụng và 01 xe máy Yamaha, BKS: 88D1-… thu giữ của anh B, anh B khai là tài sản của anh. Chiếc xe máy do anh mua lại của anh Phạm Văn T (sinh năm 1992; HKTT: Bt, LT, VP) năm 2014, việc mua bán có viết giấy tờ nhưng do thời gian lâu nên anh không còn giữ giấy tờ mua bán. Hiện anh đang giữ xe và giấy tờ xe. Ngày 22/5/2019 khi chở khách là Bùi Trung S đi từ Đê La Thành đến đường Thụy Khuê thì bị kiểm tra. CQĐT phát hiện S tàng trữ ma túy, việc S tàng trữ ma túy anh không biết. Anh Phạm Văn T khai chiếc xe máy trên anh mua năm 2012, đăng ký xe tên anh. Năm 2012 anh đã bán lại cho anh B. Tra cứu xe không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng, giám định số khung, số máy là nguyên thủy. Quá trình điều tra CQĐT đã làm rõ số tài sản trên là của anh B không liên quan đến vụ án. Ngày 17/9/2019 CQĐT Công an quận Tây Hồ đã ra quyết định xử lý vật chứng và trao trả toàn bộ số tài sản trên cho anh Trần Duy B, anh B đã nhận lại tài sản và không có đề nghị gì về dân sự.
Cáo trạng số 145/CT-VKS ngày 19/9/2019 của Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) quận Tây Hồ đã truy tố Bùi Trung S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Đại diện VKS kết luận vụ án: Giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) áp dụng điểm i khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326 về án, lệ phí Tòa án. Xử phạt bị cáo từ 18 (mười tám) đến 24 (hai mươi tư) tháng tù giam. Không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo. Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy bị cáo tàng trữ. Tịch thu sung quỹ nhà nước 02 điện thoại di động và số tiền 500.000đồng thu giữ của bị cáo. Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nói lời sau cùng trước khi HĐXX nghị án: Bị cáo biết việc bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy là sai, vi phạm pháp luật, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NhËn ®Þnh cña Tßa ¸n:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của CQĐT Công an quận Tây Hồ, Điều tra viên, VKSND quận Tây Hồ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại CQĐT, phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 03giờ ngày 22/5/2019, tổ công tác Công an phường Thụy Khuê đang làm nhiệm vụ tại khu vực đường Thụy Khuê, phường Thụy Khuê, quận Tây Hồ, Hà Nội phát hiện Bùi Trung S đang có hành vi tàng trữ trái phép: 01 túi nilong chứa tinh thể màu trắng là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 0,409gam và 01 túi nilong bên trong chứa tinh thể màu trắng là ma túy loại Ketamine, khối lượng: 0,249gam, mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện, bắt giữ.
Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 như luận tội của đại diện VKSND quận Tây Hồ là đúng.
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây mất trật tự trị an, làm gia tăng tệ nạn và các tội phạm về ma túy, gây ảnh hưởng đến sự phát triển lành mạnh của con người và là một trong những nguyên nhân gây ra tội phạm khác.
[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: HĐXX xét thấy: Bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy nhưng vẫn cố tình tàng trữ 02 loại ma túy, để sử dụng cho bản thân cho thấy bị cáo là người coi thường pháp luật. Do vậy cần phải áp dụng mức hình phạt tương xứng, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
[4] Về vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy bị cáo tàng trữ. Tịch thu sung quỹ nhà nước: 02 điện thoại di động, đã qua sử dụng và số tiền 500.000đồng thu giữ của bị cáo.
Bị cáo phải nộp án phí và có quyền kháng cáo bản án theo luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Bùi Trung S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm i khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; 47 Bộ luật hình sự năm 2015;
Các Điều 106; 331, 333, 337 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử phạt Bùi Trung S 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/5/2019.
Xử lý vật chứng (hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Tây Hồ và Kho bạc nhà nước quận Tây Hồ: Biên bản giao nhận vật chứng và biên bản giao nhận tài sản ngày 30/9/2019):
Tịch thu tiêu hủy: Toàn bộ số ma túy bị cáo tàng trữ gồm: 01 (một) bao niêm phong, được dán kín được đóng dấu của cơ quan CSĐT Công an quận Tây Hồ, có chữ ký của bị cáo và chữ ký của giám định viên, bên trong có 01 túi nilong chứa tinh thể màu trắng là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 0,409gam và 01 túi nilong bên trong chứa tinh thể màu trắng là ma túy loại Ketamine, khối lượng: 0,249gam thu giữ của bị cáo.
Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong máy, số imei: 35319022116604; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iphone màu ghi, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong máy, số imei 354376064503184 và số tiền 500.000đ(năm trăm nghìn đồng) thu giữ của bị cáo.
Án phí:Bị cáo phải nộp 200.000đ(hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Thµnh viªn héi ®ång xÐt xö
ThÈm ph¸n-Chñ to¹ phiªn toµ