vanban.org

Bản án 150/2018/HSST — Hình sự

TAND TP. Sơn La, tỉnh Sơn La Tuyên án 25/10/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đặng Việt C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

[1] Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm b khoản 2 Điều 53 Bộ luật Hình sự năm 2015: Xử phạt bi ̣ cáo Đặng Việt C 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 14/6/2018). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Việt C - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đặng Việt C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ SƠN LA
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 150/2018/HSST
Ngày 25-10-2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Pha ̣m Tuấn Minh.

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lù Văn Quý

2. Bà Lò Thị Dung.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Mạnh Hùng - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La tham gia phiên toà: Ông Phạm Quốc Cảnh - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 10 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 144/2018/HSST ngày 28/9/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 144/2018/HSST-QĐ ngày 12 tháng 10 năm 2018 đối với bị cáo:

Đặng Việt C (tên gọi khác: Không), sinh ngày 08/9/1984 tại thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ X, phường Q, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao đô ̣ng tự do ; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông Đặng Hải V (đã chết) và bà Dương Thị T, sinh năm 1960; Bị cáo có vợ là Lê Trịnh L, sinh năm 1985 và 02 con (con lớn nhất sinh năm 2008, con nhỏ nhất sinh năm 2014).

Tiền sự: Không; Tiền án: 02 tiền án (01 tiền án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, ngày 19/9/2012 bị TAND huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 24 tháng tù giam; 01 tiền án về tội Cướp tài sản, ngày 28/9/2015 Tại bản án Hình sự phúc thẩm số 58/2015/HSPT Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xử phạt 30 tháng tù giam).

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/6/2018 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 14 giờ 45 phút ngày 14/6/2018, tổ công tác Công an phường Quyết Tâm, thành phố Sơn La làm nhiệm vụ tại khu vực tổ 4, phường Quyết Tâm, thành phố Sơn La đã phát hiện, bắt quả tang Đặng Việt C đang có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy (mang theo trong người).

Vật chứng thu giữ: 01 gói nilon màu xanh, bên trong có chứa 06 viên nén màu hồng hình tròn đồng dạng (C tự giác lấy từ túi quần phía trước bên trái đang mặc ra giao nộp và khai nhận là Hồng phiến mua để sử dụng).

Ngoài ra còn tạm giữ của Đặng Việt C: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 3310 màu trắng vàng kèm theo 01 thẻ nhớ, 02 sim điện thoại đã qua sử dụng.

Quá trình điều tra bị cáo Đặng Việt C khai nhận:

Do nghiện ma túy nên khoảng 14 giờ 00 phút ngày 14/6/2018, Cường đón xe ô tô buýt từ nhà tại khu vực tổ X, phường Q, thành phố Sơn La đến khu vực tổ 1, phường Chiềng Sinh, thành phố Sơn La tìm mua ma túy về sử dụng. Tại đây, C gặp và hỏi mua được của một người nam giới không biết họ tên, địa chỉ ở đâu 01 gói nilon màu xanh bên trong có chứa 06 viên nén màu hồng với giá 500.000,đ (năm trăm nghìn đồng). Sau khi mua được số ma túy trên C cất giấu gói ma túy vừa mua được vào quần phía trước bên trái đang mặc rồi đón xe buýt lên trung tâm thành phố Sơn La. Khi đi đến khu vực tổ 4, phường Quyết Tâm, thành phố Sơn La, C xuống xe đi bộ tìm nơi sử dụng thì bị Cơ quan công an phát bắt quả tang cùng toàn bộ vật chứng thu giữ.

Cùng ngày 14/6/2018 Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Sơn La đã thành lập hội đồng bóc mở niêm phong, xác định trọng lượng, lấy mẫu gử i giám định và niêm phong lại vật chứng, kết quả: 06 viên nén đồng dạng hình tròn màu hồng có tổng khối lượng 0,63 gam. Lấy toàn bộ 0,63 gam làm mẫu gửi giám định chất ma túy, ký hiệu C1.

Tại Kết luận giám định số 765/KL ngày 18/6/2018 của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La, kết luận: “Mẫu giám định ký hiệu C1 là ma túy; Loại Methamphetamine; Tổng khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,63 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,63 gam loại Methamphetamine”. Mẫu giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.

Về nguồn gốc 0,63 gam Methamphetamine bị thu giữ: Bị cáo Đặng Việt C khai nhâ ̣n đã mua của một n

gười nam giới không quen biết vào ngày 14/6/2018 tại khu vực tổ 1, phường Chiềng Sinh, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La. Ngoài lời khai của bị cáo không còn chứng cứ nào khác chứng minh, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Sơn La không có căn cứ điều tra mở rộng vụ án. Do đó buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm về số ma tuý bị thu giữ.

Do có hành vi nêu trên tại bản cáo trạng số: 119/CT-VKSTP ngày 27/9/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La đã truy tố bị cáo Đặng Việt C về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo Đặng Việt C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La đã truy tố và thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng người, đúng tội.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Đặng Việt C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; khoản 2 Điều 51; điểm b khoản 2 Điều 53 Bộ luật Hình sự năm 2015:

Xử phạt bi ̣ cáo Đặng Việt C từ 05 năm đến 06 năm tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) Chiếc phong bì viền xanh đỏ đã niêm phong, mặt trước phong bì ghi: " Vật chứng lưu kho vụ Đặng Việt C, sinh năm 1984. Tàng trữ trái phép chất ma túy xảy ra ngày 14/6/2018 gồm: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh nilon màu xanh", mặt sau phong bì trên giấy dán niêm phong có 01 dấu tròn đỏ của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Sơn La và 06 chữ ký, 06 dòng họ tên của thành phần tham gia niêm phong, kiểm tra niêm phong còn nguyên vẹn.

Trả lại cho bi ̣ cáo Đặng Việt C: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 3310 màu trắng vàng kèm theo 01 thẻ nhớ, 02 sim điện thoại đã qua sử dụng đã được niêm phong trong 01 (Một) Chiếc phong bì viền xanh đỏ đã niêm phong, mặt trước phong bì ghi: " ĐTDĐ thu giữ của Đặng Việt C. SN 1984. HKTT: Tổ 4, phường Quyết Thắng, TP Sơn La hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bắt ngày 14/6/2018 tại tổ 4, phường Quyết Tâm - TP Sơn La", mặt sau phong bì có 02 dấu tròn đỏ của Công an phường Quyết Tâm và 05 chữ ký, 05 dòng họ tên của thành phần tham gia niêm phong, kiêm tra niêm phong còn nguyên vẹn.

Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Đặng Việt C nhận tội và không có ý kiến tranh luận với vị đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; Trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện tài liệu chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, cơ quan điều tra và Viện kiểm sát đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về hoạt động “Điều tra”, “Truy tố”, đồng thời đã giải thích và tạo điều kiện để bị cáo thực hiện đúng, đủ các quyền và nghĩa vụ của họ.

Về nội dung: Ngày 14/6/2018, Đặng Việt C đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0,63 gam Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng thì bị bắt quả tang tại khu vực tổ 4, phường Quyết Tâm, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.

Tại phiên tòa, bị cáo giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, không bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án, bị cáo hoàn toàn nhất trí với hành vi phạm tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ sau:

- Lời khai nhận tội của bị cáo;

- Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 15 giờ 00 phút ngày 14/6/2018 tại tổ 4, phường Quyết Tâm, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La đối với Đặng Việt C cùng vật chứng thu giữ là 01 gói nilon màu xanh, bên trong chứa 06 viên Hồng phiến có tổng khối lượng là 0,63 gam Methamphetamine; Biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng lấy mẫu gửi giám định và niêm phong lại; Kết luận giám định số 765/KL ngày 18/6/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La;

Lời khai nhận tội của bị cáo Đặng Việt C phù hợp với lời khai của anh Nguyễn Thanh L, sinh ngày 08/6/1993, trú tại: Tổ Y, phườ ng T, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La là ngư ời chứng kiến việc bắt người phạm tội quả tang và phù hợp với kết quả điều tra.

Với các căn cứ chứng minh trên đã có đủ cơ sở kết luận: Ngày 14/6/2018, Đặng Việt C đã thực hiện hành vi cất giấu trái phép 0,63 gam Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng. Hành vi của bị cáo Đặng Việt C đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm được quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Bị cáo Đặng Việt C đa cõ ́ 02 tiền án (01 tiền án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy , ngày 19/9/2012 bị TAND huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 24 tháng tù giam; 01 tiền án về tội Cướp tài sản ngày 28/9/2015, Tại bản án Hình sự phúc thẩm số 58/2015/HSPT Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xử phạt 30 tháng tù giam) chưa được xóa án tích. Bị cáo đã tái phạm chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội do cố ý, do vậy tội phạm thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm quy đi ̣nh t ại điểm b khoản 2 Điều 53 Bộ luật Hình sự năm 2015, do đó hành vi tàng giữ trái phép 06 viên ma túy có tổng khối lượng là 0,63 gam Methamphetamine với mục đích để sử dụng của bi ̣ cáo đã ph ạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy đi ̣nh tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, khung hình phạt có mức hình phạt tù từ năm năm đến mườ i năm.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La đã truy tố đối với bị cáo Đặng Việt C là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hội đồng xét xử thấy rằng: Tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự an ninh xã hội tại địa phương. Do đó, cần lên mức án tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm đảm bảo biện pháp cải tạo giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Khi lượng hình, Hội đồng xét xử có cân nhắc, xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân x ấu, bản thân bi ̣ cáo là đ ối tượng nghiện chất ma túy, đã có 02 tiền án chưa được xóa án tích.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Đặng Việt C có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, cụ thể: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Ngoài ra, cả ông và bà nội của bị cáo đều được Chủ tịch nước tặng Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước, là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS năm 2015.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Đặng Việt C không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015. Vì 02 tiền án của bị cáo là tình tiết định khung hình phạt nên không được coi là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, tài sản riêng không có giá trị, việc áp dụng hình phạt bổ sung không có khả năng thi hành nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về nguồn gốc 0,63 gam Methamphetamine bị thu giữ: Bị cáo Đặng Việt C khai nhâ ̣n đã mua c ủa một người nam giới không quen biết vào ngày 14/6/2018 tại khu vực tổ 1, phường Chiềng Sinh, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La. Ngoài lời khai của bị cáo không còn nguồn tài liệu chứng cứ nào khác, do đó buộc bị cáo Đặng Việt C phải hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật đối với toàn bộ số ma túy thu giữ trong vụ án.

Về xử lý vật chứng vụ án: Đối với 0,63 gam Methamphetamine thu giữ trong vụ án: Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Sơn La đã lấy toàn bộ làm mẫu gửi giám định theo quy định của pháp luật.

Đối với 01 vỏ phong bì niêm phong bên trong có 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh nilon màu xanh là vật bị cáo dùng để gói ma túy và vật không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 3310 màu trắng vàng kèm theo 01 thẻ nhớ, 02 sim điện thoại đã qua sử dụng đã được niêm phong: Quá trình điều tra xác định là tài sản của bị cáo mang theo khi phạm tội, không liên quan đến vụ án nên cần trả lại cho bị cáo.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định chung.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Đặng Việt C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

[1] Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm b khoản 2 Điều 53 Bộ luật Hình sự năm 2015:

Xử phạt bi ̣ cáo Đặng Việt C 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 14/6/2018).

[2] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[3] Về xử lý vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) Chiếc phong bì viền xanh đỏ đã niêm phong, mặt trước phong bì ghi: "Vật chứng lưu kho vụ Đặng Việt C, sinh năm 1984. Tàng trữ trái phép chất ma túy xảy ra ngày 14/6/2018 gồm: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh nilon màu xanh", mặt sau phong bì trên giấy dán niêm phong có 01 dấu tròn đỏ của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Sơn La và 06 chữ ký, 06 dòng họ tên của thành phần tham gia niêm phong, kiểm tra niêm phong còn nguyên vẹn.

Trả lại cho bi ̣ cáo Đặng Việt C: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 3310 màu trắng vàng kèm theo 01 thẻ nhớ, 02 sim điện thoại đã qua sử dụng đã được niêm phong trong 01 (Một) Chiếc phong bì viền xanh đỏ đã niêm phong, mặt trước phong bì ghi: " ĐTDĐ thu giữ của Đặng Việt C. SN 1984. HKTT – Tổ X, phường Q, TP Sơn La hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bắt ngày 14/6/2018 tại tổ 4, phường Quyết Tâm - TP Sơn La", mặt sau phong bì có 02 dấu tròn đỏ của Công an phường Quyết Tâm và 05 chữ ký, 05 dòng họ tên của thành phần tham gia niêm phong, kiêm tra niêm phong còn nguyên vẹn.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/9/2018 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Sơn La và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La).

[4] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Đặng Việt C phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 25/10/2018)./.

Cỡ chữ