- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Đ yêu cầu được ly hôn với anh H"
- Tòa quyết gì? Anh H vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 150/2018/HNGĐ-ST Ngày 27 – 7 - 2018 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Oanh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Võ Thanh Liêm
Bà Nguyễn Thị Ngọc Điệp
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Út - là thư ký Tòa án
Ngày 27 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 452/2018/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2018, về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 418/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2018, giữa:
- Nguyên đơn: Chị Trịnh Thúy Đ
(có mặt) Địa chỉ: Ấp C, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau
- Bị đơn: Anh Bùi Thanh H
(vắng mặt) Địa chỉ: Nhà không số, hẻm G, đường L, khóm 7, phường P, Tp C, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời trình bày của nguyên đơn là chị Trịnh Thúy Đ trong quá trình giải quyết vụ án, được bổ sung tại phiên tòa thể hiện:
Về hôn nhân, chị và anh Bùi Thanh H chung sống với nhau vào năm 2005, đến năm 2010 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau. Quá trình chung sống, vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do cuộc sống chung không hòa hợp, hay cự cãi với nhau, anh H không lo làm ăn. Vợ chồng chị đã ly thân nhau, mỗi người sống một nơi từ năm 2012 cho đến nay, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Nhận thấy, hôn nhân không có hạnh phúc nên chị yêu cầu được ly hôn với anh H.
Về con chung, vợ chồng có 01 con chung tên là Bùi Thiên S, sinh ngày 24/10/2006, hiện nay con đang sống chung với chị. Khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi con, không đề cập trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con đối với anh H.
Về tài sản chung, chị xác định không có.
Về nợ chung, chị xác định không nợ ai và không ai nợ lại vợ chồng.
Anh Bùi Thanh H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào các ngày 06/6/2018 và ngày 21/6/2018, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và Giấy triệu tập anh H tham gia phiên tòa xét xử vào các ngày 09/7/2018 và ngày 27/7/2018, nhưng anh H đều vắng mặt không có lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Anh Bùi Thanh H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhiều lần để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và tham gia phiên tòa xét xử theo quy định nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Hon theo quy định tại Điều 207 và Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
Nội dung tranh chấp được xác định là ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Chị Trịnh Thúy Đ và Bùi Thanh H kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau vào năm 2010 nên được công nhận là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, chị Đ cương quyết xin ly hôn vì cho rằng vợ chồng mâu thuẫn đã lâu, mỗi người sống một nơi từ năm 2012 đến nay, không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau, tình cảm vợ chồng không còn. Còn anh H đã biết việc chị Đ xin ly hôn nhưng không tham gia các phiên họp hòa giải và phiên tòa xét xử, không gửi cho Toà án văn bản ghi ý kiến của mình, không nộp các tài liệu, chứng cứ chứng minh để tự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho mình nên Hội đồng xét xử chấp nhận theo như trình bày của chị Đ và chấp nhận cho chị Đ ly hôn với anh H.
Về con chung, anh H và chị Đ có 01 con chung tên là Bùi Thiên S, sinh ngày 24/10/2006, hiện nay con đang sống chung với chị Đ. Xét thấy, hiện nay cháu S đang sống chung ổn định với chị Đ, cuộc sống hiện tại đảm bảo điều kiện cho sự phát triển bình thường về thể chất và tinh thần của cháu S, hơn nữa, cháu S có nguyện vọng tiếp tục được sống chung với mẹ khi cha mẹ ly hôn, vì vậy tiếp tục giao cháu S cho chị Đ trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Đ tự nguyện không đề cập trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con của anh H, phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
Chị Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, 147, 207, 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 của Pháp lệnh án phí và lệ phí Tòa án; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 56, 58 của Luật Hôn nhân và gia đình; 1/ Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Trịnh Thúy Đ ly hôn với anh Bùi Thanh H. 2/ Về con chung: Buộc anh Bùi Thanh H tiếp tục giao 01 con chung tên là Bùi Thiên S, sinh ngày 24/10/2006, hiện nay con đang sống chung với chị Đ, cho chị Đ trực tiếp nuôi dưỡng. Không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con đối với anh H.
Anh H vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở. 3/ Về tài sản chung và nợ chung: không có. 4/ Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình là 300.000đ, chị Đ phải chịu. Chị Đ đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000đ theo biên lai số 0000798 vào ngày 14/5/2018, được đối trừ, chị Đ đã nộp đủ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Chị Đ có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND Tp Cà Mau; - UBND xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau; - Các đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (đã ký) Lê Thị Kim Oanh |